Tiếng Việt English  
Home Our People Experiences Associations Contact us
“Tác phẩm được thuê làm“ hay còn gọi là “Work made for hire“ theo luật bản quyền Hoa Kỳ và cảnh báo doanh nghiệp Việt Nam hay sử dụng điều khoản “tác phẩm được thuê làm“ trong hợp đồng lao động hoặc hợp đồng thầu khoán
(Ngày đăng: 2020-01-10)

Tác phẩm được thuê làm“ hay còn gọi là “Work made for hire“

theo luật bản quyền Hoa Kỳ và cảnh báo doanh nghiệp Việt Nam hay sử dụng điều khoản “tác phẩm được thuê làm“ trong hợp đồng lao động hoặc hợp đồng thầu khoán

 

Email: vinh@bross.vn

 

Work made for hire“ có nghĩa là quyền tác giả không thuộc về tác giả

 

Quyền tác giả về cơ bản được hiểu là quyền độc quyền làm bản sao và kiểm sát bản gốc tác phẩm văn học nghệ thuật khoa học (ví dụ như tác phẩm viết, báo chí, điện ảnh, kiến trúc, phần mềm, mỹ thuật ứng dụng,…) được bảo hộ bởi luật pháp về quyền tác giả trong một thời hạn nhất định (thường là 50 năm sau khi tác giả qua đời). Biểu tượng chữ C trong vòng tròn © thường hay xuất hiện trên các ấn phẩm là ký hiệu cảnh báo công chúng về tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả. Tuy nhiên, luật pháp không yêu cầu phải có ký hiệu © trên tác phẩm thì quyền tác giả mới được bảo hộ.

 

Theo Cornell Law School, quyền tác giả là quyền làm bản sao, công bố, bán hoặc phân phối đối tượng được bảo hộ quyền tác giả[1]. Trong khi đó, theo Harvard University, quyền tác giả là quyền hợp pháp dành cho tác giả, nghệ sĩ, nhà soạn nhạc hoặc những người sáng tạo khác, cho phép họ kiểm soát việc người khác sử dụng tác phẩm của họ mà theo đó nhìn chung tác phẩm có bản quyền không thể bị sao chụp, phổ biến hoặc chiếm đoạt bởi người khác mà không có sự cho phép của họ[2].

 

Thường thì chỉ có tác giả hoặc những người được hưởng lợi từ tác giả mới có tư cách đòi quyền tác giả một cách hợp pháp. Tuy nhiên, có một ngoại lệ của quy tắc này là “works made for hire” (tạm dịch sang tiếng Việt là “tác phẩm được thuê làm”), theo đó nếu là “tác phẩm được thuê làm” thì chỉ người sử dụng lao động (có thể là cá nhân hoặc tổ chức) mới được xem là tác giả dù việc sáng tạo ra tác phẩm đó chỉ do người lao động thực hiện. “Tác phẩm được thuê làm” có nguồn gốc từ phán quyết năm 1989 của Tòa án tối cao Hoa Kỳ trong vụ Community for Creative Non-Violence v. Reid[3]

 

Điều 101 Đạo luật bản quyền Mỹ năm 1976 (title 17 of the U.S. Code) chia “tác phẩm được thuê làm” (works made for hire) thành 2 phần:

  1. Tác phẩm được làm bởi người lao động trong quá trình người này thực hiện công việc thuộc phạm vi của nhiệm vụ của quan hệ hợp đồng lao đông
  2. Tác phẩm được đặt hàng hoặc thuê khoán được dùng với ý nghĩa:
  1. Một phần đóng góp hoặc bài viết cho tác phẩm chung hoặc tuyển tập
  2. Một phần của tác phẩm điện ảnh hoặc tác phẩm nghe nhìn khác
  3. Bản dịch
  4. Tác phẩm bổ trợ (lời giới thiệu, lời nói đầu, minh họa, bình luận, minh họa,…)
  5. Tác phẩm biên soạn
  6. Văn bản hướng dẫn
  7. Bài thi kiểm tra
  8. Tài liệu trả lời cho bài thi kiểm tra
  9. Tác phẩm bản đồ

nếu các bên cùng thỏa thuận bằng văn bản được ký bởi chính họ rằng tác phẩm đó phải được xem là “tác phẩm được thuê làm”.

 

Hệ quả pháp lý của Work made for hire“

 

Theo Cục bản quyền Hoa Kỳ, việc xác định liệu có phải là “tác phẩm được thuê làm” hay không là một vấn đề khó vì không phải lúc nào cũng dễ dàng áp dụng định nghĩa của Điều 101 nêu trên nhưng chính án lệ Community for Creative Non-Violence v. Reid nêu trên giúp giải quyết khó khăn đó. Theo án lệ này, tòa tối cao cho rằng đầu tiên người ta phải xác quyết liệu một tác phẩm có phải đã được làm bởi người lao động (employee) hay bởi nhà thầu độc lập (independent contractor), theo đó nếu là người lao động thì phần 1 của Điều 101 được áp dụng và tác phẩm được coi là “tác phẩm được thuê làm”. Trong khi đó, nếu một nhà thầu độc lập (là ai đó mà không phải là người lao động) sáng tạo ra tác phẩm theo kiểu được đặt hàng (specially ordered or commissioned) thì tác phẩm đó cũng là “tác phẩm được thuê làm” nếu thỏa mãn đồng thời 2 điều kiện: (a) tác phẩm được nhắc tới phải thuộc một trong chín loại tác phẩm nêu ở điểm (2) của Điều 101 Đạo luật bản quyền Mỹ năm 1976 kể trên, và (b) thỏa thuận bằng văn bản giữa bên được giao việc và bên giao việc khẳng định rõ rằng tác phẩm hình thành từ hợp đồng giao việc là “tác phẩm được thuê làm[4]

 

Tóm lại, hiểu một các đơn giản hơn theo luật bản quyền của Mỹ, nếu bạn đang làm thuê cho một cá nhân hoặc tổ chức bằng hợp đồng lao động thì mọi thứ sáng tạo trí tuệ mà bạn tạo ra, nếu thuộc phạm vi công việc của hợp đồng lao động, như bài viết, bản nhạc, bản ghi hình, ghi âm, bức tranh, bài báo, hoặc các sáng tạo trí tuệ khác đều tự động thuộc quyền sở hữu của ông bà chủ của bạn chứ không thuộc về bạn ngay từ thời điểm bạn tạo ra nó.

 

Hoặc nếu ta giả thiết rằng luật bản quyền Hoa Kỳ được áp dụng cho vụ tranh chấp quyền tác giả giữa tác giả Lê Linh - người chỉ nắm quyền nhân thân đối với tập truyện tranh Thần Đồng Đất Việt với chủ sở hữu quyền tác giả là Công ty Phan Thị - bên nắm giữ toàn bộ quyền tài sản thì họa sĩ Lê Linh hoàn toàn cạn quyền quyền tác giả, không có tư cách khởi kiện chống lại Công ty Phan Thị nữa vì toàn bộ quyền nhân thân và quyền tài sản đều chỉ thuộc duy nhất Công ty Phan Thị, tất nhiên cần phải giả thiết thêm rằng 2 bên không có thỏa thuận nào khác trong hợp đồng lao động trước đó[5]

 

Trường hợp bạn giao kết hợp đồng khoán việc hoặc hợp đồng giao việc hay còn gọi là hợp đồng nhà thầu (hoặc thầu khoán) với chủ đầu tư có điều khoản nói rằng tác phẩm hình thành từ hợp đồng giao việc là “tác phẩm được thuê làm” thì những sản phẩm trí tuệ được làm ra, ví dụ bản dịch tiếng Việt của cuốn truyện Harry Potter, tác phẩm điện ảnh Cuốn Theo Chiều Gió (chuyển thể từ tiểu thuyết kinh điển Gone with the Wind), kịch bản tác phẩm sân khấu chẳng hạn như vở diễn thực cảnh biểu diễn Thủa ấy xứ Đoài sau đổi tên thành Ngày Xưa[6],… đều thuộc quyền sở hữu của nhà đầu tư đã thuê bạn chứ không thuộc về bạn, cụ thể hơn nhà đầu tư sở hữu cả quyền nhân thân và quyền tài sản[7].

 

Vài lưu ý xung quanh tác phẩm “Work made for hire“

 

Dù “Work made for hire“ là quan niệm pháp lý của Hoa Kỳ nhưng nó có thể được áp dụng đối với các doanh nghiệp hoặc cá nhân Việt Nam nếu các bên thỏa thuận lựa chọn Luật bản quyền Mỹ năm 1976 làm luật áp dụng trong các giao dịch xuyên biên giới liên quan đến quyền tác giả, quyền liên quan. Vì vậy, chúng tôi có 2 lưu ý quan trọng sau:

 

  1. Không có khái niệm pháp lý “tác phẩm được thuê làm” hay còn gọi là “work made for hire“ trong pháp luật Việt Nam. Cái gọi là “tác phẩm được thuê làm” dưới dạng tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng với tác giả sáng tạo ra tác phẩm[8], hoặc “tác phẩm được thuê làm” theo dạng tổ chức, cá nhân giao nhiệm vụ cho tác giả thuộc tổ chức của mình để sáng tạo tác phẩm[9] thực chất đều không phải là “tác phẩm được thuê làm” theo nghĩa của Điều 101 của Luật bản quyền Hoa Kỳ năm 1976 vì Việt Nam không chấp nhận chuyển giao quyền nhân thân (trừ quyền công bố hoặc cho phép người khác công bố) và cũng không công nhận tác giả là pháp nhân hoặc tổ chức.

 

  1. Nhiều cá nhân, doanh nghiệp Việt Nam đã cài cắm điều khoản “tác phẩm được thuê làm” theo Điều 101 Luật bản quyền Hoa Kỳ năm 1976 khi ký với người lao động hoặc với nhà thầu độc lập hãy chuẩn bị tinh thần đón tiếp rủi ro tranh chấp bùng nổ hoặc có thể phải đối mặt với vô số vụ kiện xâm phạm quyền nhân thân theo điều 19 Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam vì lý do điều khoản đó vô hiệu tuyệt đối.

 

Bross & Partners có nhiều kinh nghiệm hỗ trợ khách hàng tự vệ (phòng vệ) chống cáo buộc xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan bao gồm cả những vụ việc mà khách hàng bị đòi bồi thường ở mức kỷ lục 1,5 triệu đô la Mỹ. Nếu Quý khách hàng có nhu cầu cụ thể cần được tư vấn, vui lòng liên hệ: vinh@bross.vn; điện thoại 0903 287 057, 84-4-3555 3466; Wechat: wxid_56evtn82p2vf22; Skype: vinh.bross.

 

Bross & Partners, một công ty luật sở hữu trí tuệ được thành lập năm 2008, thường xuyên lọt vào bảng xếp hạng các công ty luật sở hữu trí tuệ hàng đầu của Việt Nam do các tổ chức đánh giá luật sư có uy tín toàn cầu công bố hàng năm như Managing Intellectual Property (MIP), World Trademark Review (WTR1000), Legal 500 Asia Pacific, AsiaLaw Profiles, Asia Leading Lawyers, Asia IP và Asian Legal Business (ALB). Với nhiều năm kinh nghiệm nổi bật và năng lực chuyên môn sâu khác biệt, Bross & Partners có thể giúp khách hàng bảo vệ hoặc tự vệ một cách hiệu quả trong các tranh chấp sở hữu trí tuệ phức tạp ở Việt Nam và nước ngoài liên quan đến bản quyền tác giả, quyền liên quan, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu/thương hiệu và tên miền internet.

 



[3] Xem chi tiết phán quyết này tại link: https://caselaw.findlaw.com/us-supreme-court/490/730.html

[4] Xem thêm: United States Copyright Office, Works made for hire tại link: https://www.copyright.gov/circs/circ09.pdf

[6] Tác phẩm sân khấu 'Ngày xưa' - vở diễn thực cảnh đầu tiên tại Việt Nam do đạo diễn Việt Tú xây dựng và Công ty cổ phần Tuần Châu Hà Nội là chủ đầu tư. Tuy nhiên, do bất đồng giữa nghệ sĩ và nhà đầu tư dẫn đến hợp đồng hợp tác xây dựng và trình diễn vở diễn giữa 2 bên thất bại. Sau sự kiện Tuần Châu Hà Nội thuê nhóm nghệ sĩ khác dẫn đầu là đạo diễn Hoàng Nhật Nam làm tiếp dự án dở dang và cho trình diễn vở diễn thực cảnh khác có tên gọi là “Tinh hoa Bắc Bộ” được dư luận đánh giá cao. Tuần Châu Hà Nội khởi kiện buộc đạo diễn Việt Tú chuyển giao quyền sở hữu quyền tác giả đối với kịch bản Ngày Xưa trong khi đạo diễn Việt Tú phản tố cho rằng Tuần Châu Hà Nội chỉ được coi là chủ sở hữu quyền tác giả khi thanh toán đủ tiền theo hợp đồng. Theo bản án sơ thẩm, tòa án Hà Nội buộc đạo diễn Việt Tú phải chuyển giao quyền sở hữu quyền tác giả kịch bản Ngày Xưa cho Tuần Châu Hà Nội và tòa án tuyên bố Tinh hoa Bắc Bộ là tác phẩm phái sinh của Ngày Xưa. Xem thêm tại link của báo Tuổi Trẻ: https://tuoitre.vn/hoan-phien-toa-phuc-tham-vu-tranh-chap-vo-dien-tinh-hoa-bac-bo-20191010103804241.htm

[7] Theo Luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam, quyền tải sản hay còn gọi là quyền kinh tế gồm 6 loại quyền độc quyền (quyền sao chép, quyền phân phối, quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng, quyền cho thuê, quyền làm tác phẩm phái sinh và quyền biểu diễn) và quyền nhân thân hay còn gọi là quyền tinh thần gồm 4 loại quyền độc quyền (quyền đặt tên cho tác phẩm; quyền đứng tên hoặc quyền được nêu tên thật hoặc bút danh; quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố; và quyền bảo vệ sự toàn vẹn, ngăn người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tác tác phẩm).

Xem thêm bài viết 10 loại quyền độc quyền gắn liền với quyền tác giả và giới hạn pháp lý ngăn cản chủ thể quyền tác giả thực thi các quyền độc quyền đó”: http://bross.vn/newsletter/ip-news-update/10-loai-quyen-doc-quyen-gan-lien-voi-quyen-tac-gia--va-gioi-han-phap-ly-ngan-can-chu-the-quyen-tac-gia-thuc-thi-cac-quyen-doc-quyen-do;

hoặc bài viết“Người nắm tác quyền thì được hưởng những quyền độc quyền nào theo pháp luật Việt Nam”:  http://bross.vn/newsletter/ip-news-update/Nguoi-nam-tac-quyen-thi-duoc-huong--nhung-quyen-doc-quyen-nao-theo-phap-luat-Viet-Nam

[8] Xem khoản 2 điều 39 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam

[9] Xem khoản 1 điều 39 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam

 

Bookmark and Share
Relatednews
Google thua kiện 9 tỷ đô la Mỹ trong vụ xâm phạm quyền tác giả đối với giao diện tương tác phần mềm (Java APIs) của Oracle
Basic understanding of the US copyright concept “work made for hire“ and warning of legal risks around “work made for hire“ clause transplanted into labor contract or commission agreement by Vietnamese companies
Sao chép, sử dụng và phân phối giáo trình vì mục đích học tập có được xem là “sử dụng hợp lý” để được miễn trách nhiệm xâm phạm quyền tác giả hay không ?
Fair use, fair dealing or also known as “cases of use of published works where permission and payment of royalties and/or remunerations are not required” under the copyright legislation of Vietnam
“Sử dụng hợp lý” hay còn gọi là “Fair Use” hoặc “Sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép không phải trả thù lao” theo luật Việt Nam
10 types of exclusive rights ascribing to copyright and forcible limitations to the copyright holder’s enforcement of those exclusive rights
10 loại quyền độc quyền gắn liền với quyền tác giả và giới hạn pháp lý ngăn cản chủ thể quyền tác giả thực thi các quyền độc quyền đó
Bài thuyết trình do luật sư Vinh trình bày ngày 16/12/2019 trước Hội Sở hữu trí tuệ và Cục Sở hữu trí tuệ với chủ đề “không bảo hộ riêng” hay còn gọi là “disclaimer statement” liên quan đến nhãn hiệu ở Việt Nam và Hoa Kỳ
Fake goods and counterfeit trademark goods under the laws of Vietnam
Hàng giả và hàng hóa giả mạo sở hữu trí tuệ ở Việt Nam

Newsletter
Guidelines
Doing business in Vietnam
Intellectual Property in Vietnam
International Registrations
Copyright © Bross & Partners All rights reserved.

         
Cửa thép vân gỗcua thep van go