Tiếng Việt English  
Home Our People Experiences Associations Contact us
CÁCH NHẬN BIẾT, PHÂN BIỆT NHÃN HIỆU THÔNG THƯỜNG, NHÃN HIỆU TẬP THỂ VÀ NHÃN HIỆU CHỨNG NHẬN
(Ngày đăng: 2019-07-16)

Email: vinh@bross.vn

 

Tuyệt đại đa số nhãn hiệu hiện có là nhãn hiệu thông thường

 

Nhãn hiệu, một đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ được bảo hộ trong pháp luật về nhãn hiệu có ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, nhìn chung được định nghĩa bởi đa số các quốc gia là các dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc nhưng phải có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác. Ví dụ nhãn hiệu smartphone Samsung đủ khả năng phân biệt với Apple (Quả táo). Nếu xét dưới góc độ tính chất phân biệt, chỉ dẫn nguồn gốc của hàng hóa, dịch vụ thì nhãn hiệu có thể được phân loại thành nhãn hiệu thông thường (ordinary trademark), nhãn hiệu tập thể (collective trademark), nhãn hiệu chứng nhận (certification trademark)

 

Tính đến đầu tháng 7/2019[1], Việt Nam đã cấp trên 320,000 giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu (chưa kể 125,225 đơn nhãn hiệu đăng ký quốc tế theo Hệ thống Madrid chỉ định hoặc mở rộng lãnh thổ vào Việt Nam[2]) nhưng trong số đó chỉ có 981 giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu tập thể tính đến ngày 31/12/2018[3] và theo một số nguồn tin không chính thức thì số lượng nhãn hiệu chứng nhận ở Việt Nam tính đến tháng 3/2019 chỉ bằng khoảng 1/3 so với số lượng nhãn hiệu tập thể hoặc bằng 291.

 

Vậy nhìn ra thế giới thì sao? Theo WIPO, dự tính có khoảng 7 triệu đơn đăng ký nhãn hiệu được nộp trên toàn cầu trong năm 2016, tăng 16,4% so với năm 2015. Con số 7 triệu đơn này năm 2016 gấp khoảng 3 lần so với số lượng đơn đăng ký nhãn hiệu trên toàn thế giới nộp năm 2001[4].

 (Nguồn: WIPO Statistics Database, September 2017)

 

Nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận là hai dạng biến thể của nhãn hiệu thông thường. Số lượng đơn đăng ký 2 loại nhãn hiệu này là rất nhỏ so với nhãn hiệu thông thường. Tuy nhiên, theo WIPO, Việt Nam đứng thứ 7 với 107 đơn nộp năm 2016 (chỉ sau Mỹ - 173 đơn) thuộc top 20 cơ quan sở hữu trí tuệ có số lượng đơn đăng ký nhãn hiệu tập thể nhiều nhất thế giới trong khi Ấn độ là quốc gia có số lượng đơn đăng ký nhãn hiệu tập thể nhiều nhất thế giới với 2,039 đơn.

 

(Nguồn: WIPO Statistics Database, September 2017)

 

Đối với nhãn hiệu chứng nhận, Trung Quốc là quốc gia có số lượng đơn đăng ký nhãn hiệu chứng nhận nhiều nhất thế giới với 804 đơn trong khi đó Việt Nam giữ ở vị trí số 14 thuộc top 20 cơ quan sở hữu trí tuệ có số đơn đăng ký nhãn hiệu chứng nhận nhiều nhất thế giới.

(Nguồn: WIPO Statistics Database, September 2017)

 

Nhãn hiệu tập thể

 

Chức năng phân biệt, chỉ dẫn nguồn gốc thương mại của hàng hóa, dịch vụ chính là đặc trưng chủ yếu thể hiện bản chất của nhãn hiệu (trên thương trường người ta hay gọi là thương hiệu). Nhưng nếu chức năng này thu hẹp lại, nghĩa là nếu nhãn hiệu đó được dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hóa, dịch vụ của tổ chức cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó thì dạng nhãn hiệu này mang tính chất là nhãn hiệu biến thể của nhãn hiệu thông thường mà người ta gọi là nhãn hiệu tập thể (collective trademark). Dưới đây là ví dụ nhãn hiệu tập thể được bảo hộ ở Việt Nam

 

Nhãn hiệu tập thể

Số đăng ký/

Ngày đăng ký

Chủ sở hữu nhãn hiệu

Sản phẩm

được bảo hộ

 

 

221701

25/03/2014

Hội Nông dân huyện Lộc Ninh

Thị trấn Lộc Ninh, Huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước

Nhóm 30: Hạt tiêu

 

 

209843

07/08/2013

 

Hội Nông dân thị xã Thuận An

Đường Hoàng Hoa Thám, phường Lái Thiêu, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương

 

Nhóm 31: Quả măng cụt tươi

 

Nhãn hiệu chứng nhận

 

Còn một loại biến thể nữa của nhãn hiệu thông thường là nhãn hiệu chứng nhận (certification trademark). Nhãn hiệu chứng nhận khác biệt ở chỗ nó không được sử dụng bởi chính chủ sở hữu để phân biệt hàng hóa, dịch vụ mà chỉ được sử dụng bởi tổ chức, cá nhân khác với chủ sở hữu nếu những người này đáp ứng, tuân thủ các điều kiện nhất định về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất, độ an toàn hoặc các đặc tính khác mà chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận quy định. Dưới đây là 2 nhãn hiệu chứng nhận đang được bảo hộ ở Việt Nam:

 

Nhãn hiệu chứng nhận

Số đăng ký/Ngày đăng ký

Chủ sở

hữu nhãn hiệu

Sản phẩm được bảo hộ

 

 

124661

Báo Sài gòn tiếp thị

Từ nhóm 01 đến nhóm 45

 

170039

18/08/2011

Ủy ban nhân dân huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang

Thị trấn Cầu Gồ, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang

Nhóm 29: Thịt gà đã chế biến; thực phẩm làm từ thịt gà.
Nhóm 31: Gà giống, gà thịt (còn sống).
Nhóm 35: Mua bán thịt gà đã chế biến, thực phẩm làm từ thịt gà, gà giống, gà thịt (còn sống)

 

 

156844

12/01/2011

Hiệp hội thanh long Bình Thuận

17 Thủ Khoa Huân, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận

 

Nhóm 31: Quả thanh long tươi.
Nhóm 35: Mua, bán quả thanh long tươi

 

Bảng so sánh cách nhận biết và phân biệt nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận

 

Tiêu chí so sánh

Nhãn hiệu tập thể

Nhãn hiệu chứng nhận

 

Bản chất

Phân biệt sản phẩm của các thành viên của một tập thể này với người khác không thuộc tập thể đó

Chứng nhận sản phẩm mang nhãn hiệu đã đạt được tiêu chuẩn, đặc tính, chất lượng hoặc tuân thủ các đặc tính kỹ thuật khác

Ai có quyền nộp đơn đăng ký

Tổ chức tập thể (hội, hiệp hội, hợp tác xã,…) có ít nhất 2 thành viên trở lên

Tổ chức bất kỳ có chức năng kiểm soát, chứng nhận đặc tính của sản phẩm

Ai có quyền sử dụng

Được sử dụng bởi các thành viên và có thể được sử dụng bởi chính tổ chức tập thể là chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể

Không bao giờ được sử dụng bởi chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận

Chủ sở hữu

Tổ chức tập thể được ghi tên là chủ giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu tập thể

Tổ chức được ghi tên là chủ giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu chứng nhận

Quyền chấm dứt tư cách sử dụng

Được quy định trong Quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể

Được quy định trong Quy chế sử dụng nhãn hiệu chứng nhận[5]

 

Nếu Quý khách hàng có nhu cầu cụ thể cần được tư vấn, vui lòng liên hệ: vinh@bross.vn; điện thoại 0903 287 057; Wechat: wxid_56evtn82p2vf22; Skype: vinh.bross

 

Bross & Partners, một công ty luật sở hữu trí tuệ được thành lập năm 2008, thường xuyên lọt vào bảng xếp hạng các công ty luật sở hữu trí tuệ hàng đầu của Việt Nam do các tổ chức đánh giá luật sư có uy tín toàn cầu công bố hàng năm như Managing Intellectual Property (MIP), World Trademark Review (WTR1000), Legal 500 Asia Pacific, AsiaLaw Profiles, Asia Leading Lawyers, Asia IP và Asian Legal Business (ALB). Bross & Partners có thể giúp khách hàng bảo vệ hoặc tự vệ tại tòa án hoặc cơ quan thực thi quyền sở hữu trí tuệ một cách hiệu quả trong các tranh chấp sở hữu trí tuệ phức tạp ở Việt Nam và nước ngoài liên quan đến tên thương mại, nhãn hiệu, quyền tác giả, quyền liên quan, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp và tên miền quốc tế và tên miền quốc gia.

 


[1] Ví dụ có thể xem Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 322640 được cấp ngày 18/06/2019

[2] Theo dữ liệu tra cứu nhãn hiệu Madrid Monitor, tính đến ngày 16/7/2019, có tổng cộng 125.225 đơn đăng ký quốc tế theo hệ thống Madrid chỉ định Việt Nam. Xem: https://www.wipo.int/madrid/monitor/en/index.jsp

[5] Ví dụ cuối tháng 6/2019 thương hiệu Asanzo bị tước danh hiệu “Hàng Việt Nam Chất Lượng Cao” (chính là nhãn hiệu chứng nhận được bảo hộ theo đăng ký số 124661 nêu trên) vì lý do mà Hội Doanh nghiệp hàng Việt Nam chất lượng cao cho rằng Asanzo có khai báo gian dối về xuất xứ sản phẩm. Xem thêm: https://vietnamnet.vn/vn/kinh-doanh/dau-tu/tuoc-danh-hieu-hang-viet-nam-chat-luong-cao-cua-asanzo-544280.html

 

Bookmark and Share
Relatednews
Vụ tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ kinh điển thứ 2 ở Việt Nam: X-Men vs. X-Men
A little bit excited when Bross & Partners’ intellectual property practice has been upgraded as “recommended” by the AsiaLaw Profiles 2019 rankings
“Khả năng gây nhầm lẫn” chỉ tồn tại dựa trên kết quả của đánh giá tổng thể nhãn hiệu xin đăng ký so với nhãn hiệu có trước
Merely Similar in terms of Form of Expression May Suffice Likelihood of Confusion
The Complexity in Determining “Likelihood of Confusion” Viewed from the Classic “Truong Sinh” Trademark Infringement Lawsuit in Vietnam
Quảng cáo với từ khóa chứa nhãn hiệu của người khác có bị xem là “sử dụng nhãn hiệu trong thương mại” hay không trước khi kết luận có hành vi xâm phạm quyền độc quyền nhãn hiệu (thương hiệu) dựa trên sự tồn tại của “khả năng gây nhầm lẫn”?
Tính phức tạp trong việc xác định “khả năng gây nhầm lẫn” nhìn từ vụ tranh chấp kinh điển giữa hai thương hiệu (nhãn hiệu) Trường Sinh ở Việt Nam
Nhãn hiệu xin đăng ký dù chỉ tương tự về hình thức thể hiện so với nhãn hiệu có trước cũng có thể bị xem là đủ có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc thương mại
Thực tiễn vận dụng quy tắc đánh giá 6 yếu tố để quyết định có hay không có khả năng gây nhầm lẫn nhìn từ vụ “The Body Shop” vs. “The Beauty Shop” ở Việt Nam
HÃY CẨN TRỌNG KHI ĐĂNG KÝ NHÃN HIỆU (THƯƠNG HIỆU) CÓ CẤU TẠO CHỈ GỒM CHỮ SỐ HOẶC CHỮ SỐ KẾT HỢP VỚI DẤU HIỆU CHỮ MÔ TẢ
VIETNAM TO FIRSTLY ISSUE ITS NATIONAL INTELLECTUAL PROPERTY STRATEGY WITH VISIONS TO 2030

Newsletter
Guidelines
Doing business in Vietnam
Intellectual Property in Vietnam
International Registrations
Copyright © Bross & Partners All rights reserved.

         
Cửa thép vân gỗcua thep van go