Tiếng Việt English  
Home Our People Experiences Associations Contact us
CƠ CHẾ XÉT NGHIỆM NHANH NHÃN HIỆU THEO LUẬT VÀ THỰC TIỄN Ở NHẬT BẢN
(Ngày đăng: 2019-07-23)

 

Email: vinh@bross.vn

9.3 tháng là tốc độ xét nghiệm đơn đăng ký nhãn hiệu thực sự ấn tượng của Nhật Bản trong bối cảnh số lượng đơn đăng ký nhãn hiệu nộp hàng năm gần 190,000

 

Theo báo cáo năm 2019 (2019 Annual Report)[1] của Cơ quan sáng chế Nhật Bản (JPO) ban hành ngày 12/7/2019, năm 2018 có tổng cộng 184,483 đơn đăng ký nhãn hiệu được nộp cho JPO trong đó chỉ có 17,802 đơn đăng ký quốc tế qua Hệ thống Madrid chỉ định Nhật Bản. So với con số 190,939 đơn nhãn hiệu nộp năm 2017 số lượng đơn đăng ký nhãn hiệu năm 2018 giảm nhẹ khoảng 4%. Xem nhanh bảng thống kê theo năm của JPO dưới đây:

 

 

Lượng đơn của người nước ngoài chiếm khoảng 21,4% với 39,209 đơn trong đó tập trung vào 4 quốc tịch nước ngoài chiếm số lượng đơn lớn nhất đến từ Liên minh Châu Âu (EU), Hoa Kỳ, Trung Quốc và Hàn Quốc, trong đó Trung Quốc vươn lên là quốc gia có số lượng đơn đăng ký nhãn hiệu nhiều nhất tại Nhật Bản với trên 10,000 đơn.

 

 

Có lẽ tốc độ xét nghiệm đơn nhãn hiệu ở Nhật Bản được xem là nhanh nhất thế giới. Cụ thể, theo thống kê của JPO thời gian trung bình tính từ thời điểm đơn đăng ký nhãn hiệu được nộp cho đến khi nhận được thông báo xét nghiệm lần đầu (first office action) là 6.3 tháng áp dụng cho chu kỳ thống kê năm 2017. Tính theo chu kỳ của năm 2018 thời gian này tăng lên 7.9 tháng tính trung bình làm cho thời hạn chờ xét nghiệm trung bình cho đến khi cấp văn bằng bảo hộ là 9.3 tháng.

 

2 cơ chế xét nghiệm nhanh đơn đăng ký nhãn hiệu ở Nhật Bản

 

Nhật Bản đang áp dụng và triển khai 2 cơ chế xét nghiệm nhanh đơn đăng ký nhãn hiệu. Cơ chế thứ nhất gọi là xét nghiệm nhanh (fast track examination) và cơ chế thứ 2 gọi là xét nghiệm tăng tốc (accelerated examination)[2].

 

Xét nghiệm nhanh là cơ chế vận hành bởi JPO cho phép thúc đẩy việc bắt đầu xét nghiệm (thẩm định) làm rút ngắn 2 tháng so với xét nghiệm thông thường nếu đáp ứng một số điều kiện nhất định. Xét nghiệm nhanh chỉ áp dụng cho các đơn đăng ký nhãn hiệu trong đó hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu xin đăng ký phải có sẵn trong danh mục hàng hóa, dịch vụ được công bố bởi JPO, cụ thể gồm một trong ba nguồn chính: (a) hướng dẫn xét nghiệm đối với hàng hóa, dịch vụ tương tự, (b) quy chế thực thi đạo luật nhãn hiệu, hoặc (c) phân loại hàng hóa, dịch vụ theo thỏa ước Nice (Nice classification)

 

Xét nghiệm tăng tốc có nghĩa là cơ chế của JPO áp dụng cho cả thủ tục thẩm định đơn đăng ký và thủ tục giải quyết khiếu nại, tranh chấp nhãn hiệu với điều kiện có yêu cầu của người nộp đơn (người khiếu nại) và cùng lúc đáp ứng cả hai điều kiện sau: (a) nhãn hiệu là đối tượng của đơn xin đăng ký đã được sử dụng cho hàng hóa, dịch vụ xin đăng ký, hoặc nhãn hiệu là đối tượng của đơn xin đăng ký gần như được chuẩn bị đưa ra thị trường ngày lập tức, và (b) hàng hóa, dịch vụ là đối tượng của đơn đăng ký nằm trong danh mục hàng hóa, dịch vụ quy định sẵn thuộc bản Hướng dẫn xét nghiệm đối với hàng hóa, dịch vụ tương tự

 


Tiêu chí so sánh

Xét nghiệm nhanh

Xét nghiệm tăng tốc

Thông báo xét nghiệm lần đầu

(First Office Action)

Ngắn hơn khoảng 2 tháng so với xét nghiệm thông thường (regular exam-ination)

(Tính ra trung bình chỉ mất khoảng 6 tháng để nhận được first office action)

Trung bình chỉ mất 1.8 tháng kể từ thời điểm nộp yêu cầu xét nghiệm tăng tốc

Có phải nộp yêu cầu không?

Không cần thiết

Bắt buộc

Điều kiện áp dụng

Hàng hóa, dịch vụ là đối tượng của đơn đăng ký nằm trong danh mục hàng hóa, dịch vụ quy định sẵn thuộc bản Hướng dẫn xét nghiệm đối với hàng hóa, dịch vụ tương tự

Phải đáp ứng cả 2 điều kiện:

  1. nhãn hiệu là đối tượng của đơn xin đăng ký đã được sử dụng cho hàng hóa, dịch vụ xin đăng ký
  2. Hàng hóa, dịch vụ là đối tượng của đơn đăng ký nằm trong danh mục hàng hóa, dịch vụ quy định sẵn thuộc bản Hướng dẫn xét nghiệm đối với hàng hóa, dịch vụ tương tự

 

Bảng thống kế của JPO dưới đây cho thấy chỉ riêng năm 2017 đã có 3441 đơn đăng ký nhãn hiệu tăng tốc được nộp cho JPO so với con số 1503 yêu cầu xét nghiệm tăng tốc được nộp trong năm 2011

 

 

 

Nếu Quý khách hàng có nhu cầu cụ thể cần được tư vấn, vui lòng liên hệ: vinh@bross.vn; điện thoại 0903 287 057; Wechat: wxid_56evtn82p2vf22; Skype: vinh.bross

 

Bross & Partners, một công ty luật sở hữu trí tuệ được thành lập năm 2008, thường xuyên lọt vào bảng xếp hạng các công ty luật sở hữu trí tuệ hàng đầu của Việt Nam do các tổ chức đánh giá luật sư có uy tín toàn cầu công bố hàng năm như Managing Intellectual Property (MIP), World Trademark Review (WTR1000), Legal 500 Asia Pacific, AsiaLaw Profiles, Asia Leading Lawyers, Asia IP và Asian Legal Business (ALB). Với nhiều năm kinh nghiệm nổi bật và năng lực chuyên môn sâu khác biệt, Bross & Partners có thể giúp khách hàng bảo vệ hoặc tự vệ một cách hiệu quả trong các tranh chấp sở hữu trí tuệ phức tạp ở Việt Nam và nước ngoài liên quan đến bản quyền tác giả, quyền liên quan, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu/thương hiệu và tên miền internet.

 

Bookmark and Share
Relatednews
Let’s Compare Section 74(2)(h) of the Vietnam IP Law with Similar Legal Concepts in the Trademark Laws in China, Malaysia, Singapore and Hong Kong
Hết quyền sở hữu trí tuệ và ngoại lệ không xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam
Một số điều khoản quan trọng cần lưu ý khi soạn thảo và đàm phán hợp đồng li-xăng nhãn hiệu không độc quyền ở Việt Nam
Hệ quả pháp lý cần chú ý đối với đăng ký quốc tế nhãn hiệu (thương hiệu) theo hệ thống Madrid có nguồn gốc Việt Nam chỉ định Liên Minh Châu Âu sau khi Brexit phát sinh hiệu lực
Bàn thêm về điều 74.2.h của Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam trên cơ sở tham chiếu nhanh pháp luật nhãn hiệu của một số nước Châu Á
Google thua kiện 9 tỷ đô la Mỹ trong vụ xâm phạm quyền tác giả đối với giao diện tương tác phần mềm (Java APIs) của Oracle
“Tác phẩm được thuê làm“ hay còn gọi là “Work made for hire“ theo luật bản quyền Hoa Kỳ và cảnh báo doanh nghiệp Việt Nam hay sử dụng điều khoản “tác phẩm được thuê làm“ trong hợp đồng lao động hoặc hợp đồng thầu khoán
Basic understanding of the US copyright concept “work made for hire“ and warning of legal risks around “work made for hire“ clause transplanted into labor contract or commission agreement by Vietnamese companies
Sao chép, sử dụng và phân phối giáo trình vì mục đích học tập có được xem là “sử dụng hợp lý” để được miễn trách nhiệm xâm phạm quyền tác giả hay không ?
Fair use, fair dealing or also known as “cases of use of published works where permission and payment of royalties and/or remunerations are not required” under the copyright legislation of Vietnam
“Sử dụng hợp lý” hay còn gọi là “Fair Use” hoặc “Sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép không phải trả thù lao” theo luật Việt Nam

Newsletter
Guidelines
Doing business in Vietnam
Intellectual Property in Vietnam
International Registrations
Copyright © Bross & Partners All rights reserved.

         
Cửa thép vân gỗcua thep van go