Chặn hàng giả ở cửa khẩu: doanh nghiệp nên đăng ký giám sát hải quan hay yêu cầu tạm dừng thông quan?

14/05/2026

Với một lô hàng nhập khẩu nghi hàng giả trị giá 5 tỷ đồng, khoản bảo đảm 20% luật định để yêu cầu tạm dừng làm thủ tục hải quan là 1 tỷ đồng. Số tiền này là để bồi thường cho chủ hàng nếu sau đó xác định được rằng lô hàng này không xâm phạm quyền SHTT. Bài viết dưới đây giúp doanh nghiệp phân biệt đúng bản chất của thủ tục yêu cầu giám sát hải quan và tạm dừng làm thủ tục hải quan theo Thông tư 06/2026/TT-BTC thay thế Thông tư 13/2015/TT-BTC sửa đổi (“Thông tư 06”), từ đó lựa chọn đúng công cụ, đúng thời điểm và tránh bị đẩy vào thế bị động khi tín hiệu từ cửa khẩu đã xuất hiện là tối quan trọng.

Thủ tục đăng ký giám sát hải quan – thủ tục đưa dữ liệu quyền SHTT vào hệ thống Hải quan

Hồ sơ đề nghị kiểm tra, giám sát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ theo Điều 6 Thông tư 06 gồm:

  1. Đơn đề nghị làm theo các chỉ tiêu thông tin hoặc 01 bản chính theo Mẫu số 01;
  2. Tài liệu chứng minh quyền sở hữu trí tuệ;
  3. Ảnh chụp và dữ liệu nhận diện hàng hóa (bao gồm mô tả hàng hóa xâm phạm và dấu hiệu phân biệt hàng thật với hàng giả/hàng xâm phạm, nếu có);
  4. Danh sách đầu mối xuất nhập khẩu hợp pháp và đầu mối có khả năng xâm phạm; và
  5. Văn bản ủy quyền nếu nộp qua đại diện (ví dụ Bross & Partners). Trường hợp văn bằng bảo hộ hoặc giấy chứng nhận đã tồn tại dưới dạng điện tử trên trang thông tin điện tử theo thông báo của cơ quan có thẩm quyền, người nộp đơn không phải nộp bản chụp, mà chỉ cần khai đầy đủ thông tin trên đơn để cơ quan hải quan kiểm tra, đối chiếu.

Như vậy, đề nghị kiểm tra, giám sát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ theo Điều 6 thực chất là thủ tục đăng ký giám sát hải quan, tức bản chất của nó là thủ tục đưa dữ liệu quyền sở hữu trí tuệ và dữ liệu nhận diện hàng hóa vào hệ thống Hải quan. Điểm tiến bộ đáng chú ý là thủ tục này đã được số hóa và tinh gọn rõ rệt ở 3 khâu: giấy uỷ quyền chỉ còn yêu cầu 01 bản chụp, không còn lặp lại yêu cầu hợp pháp hóa lãnh sự như trước; hồ sơ điện tử trở thành phương thức nộp chính; và việc chứng minh quyền được đơn giản hóa trong trường hợp văn bằng bảo hộ đã tồn tại dưới dạng điện tử để Cục Hải quan tự kiểm tra, đối chiếu.

Thủ tục yêu cầu tạm dừng thông quan – thủ tục “đánh vào một lô hàng cụ thể”

Khác hẳn với thủ tục đăng ký giám sát hải quan, thủ tục yêu cầu tạm dừng làm thủ tục hải quan có bản chất là kích hoạt một biện pháp can thiệp trực tiếp vào một lô hàng nhập khẩu/xuất khẩu cụ thể. Hồ sơ yêu cầu tạm dừng làm thủ tục hải quan được nộp đến Hải quan cửa khẩu/Hải quan ngoài cửa khẩu nơi làm thủ tục hải quan thông qua Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan.

Trường hợp Cục Hải quan chưa chấp nhận hồ sơ giám sát hải quan, người nộp đơn phải nộp:

(a) Toàn bộ hồ sơ đăng ký giám sát hải quan theo Điều 6;

(b) Đơn đề nghị tạm dừng làm thủ tục hải quan theo mẫu;

(c) Chứng từ bảo lãnh của tổ chức tín dụng hoặc khoản tiền bảo đảm bằng 20% giá trị lô hàng hoặc tối thiểu 20 triệu đồng nếu không thể xác định được giá trị lô hàng đó; và

(d) Chứng từ nộp phí hải quan đối với việc tạm dừng làm thủ tục hải quan.

Trường hợp Cục Hải quan đã chấp thuận hồ sơ đăng ký giám sát hải quan theo Điều 6, hồ sơ Điều 9 được rút gọn, chỉ còn 3 thành phần hồ sơ sau cùng, cụ thể gồm:

  1. Đơn đề nghị tạm dừng làm thủ tục hải quan theo mẫu
  2. Chứng từ bảo lãnh của tổ chức tín dụng hoặc khoản tiền bảo đảm bằng 20% giá trị lô hàng hoặc tối thiểu 20 triệu đồng nếu không thể xác định được giá trị lô hàng đó; và
  3. Chứng từ nộp phí hải quan đối với việc tạm dừng làm thủ tục hải quan.

Nếu hệ thống điện tử chưa đáp ứng hoặc bị lỗi, người nộp đơn nộp 01 bộ hồ sơ giấy cho Hải quan cửa khẩu/Hải quan ngoài cửa khẩu nơi làm thủ tục, trong đó đơn đề nghị tạm dừng và chứng từ bảo đảm là bản chính.

Trình tự, thủ tục chủ động tạm dừng làm thủ tục hải quan

Điều 10a là điểm mới đáng chú ý nhất của Thông tư 06 vì đây là quy định mới cho phép Cơ quan hải quan được chủ động tạm dừng thông quan. Theo đó, trong quá trình kiểm tra, giám sát, kiểm soát, hoặc qua phân tích cơ sở dữ liệu về sở hữu trí tuệ, hoặc trên cơ sở thông tin từ các đơn vị nghiệp vụ hải quan, nếu có căn cứ rõ ràng nghi ngờ hàng hóa là giả mạo nhãn hiệu, giả mạo chỉ dẫn địa lý hoặc sao chép lậu, thì Đội trưởng Hải quan nơi đăng ký tờ khai có thể ra quyết định tạm dừng làm thủ tục hải quan theo Mẫu số 10.

Sau khi ban hành quyết định tạm dừng, trong vòng 08 giờ làm việc, Cơ quan Hải quan phải thông báo cho chủ thể quyền hoặc người được ủy quyền hợp pháp theo thông tin liên hệ đang có trong hồ sơ. Tuỳ thuộc vào kết quả kiểm tra thực tế hàng hóa, vụ việc có thể đi theo một trong ba hướng: (a) không có vi phạm thì tiếp tục thông quan; hoặc (b) có vi phạm thì xử lý theo pháp luật, thậm chí chuyển hồ sơ hình sự nếu có dấu hiệu tội phạm; hoặc (c) nếu chưa đủ cơ sở kết luận thì Cơ quan Hải quan tiếp tục gửi ảnh, yêu cầu cung cấp tài liệu, đề nghị lấy mẫu giám định hoặc phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền để làm rõ.

Điều 10a trao quyền chủ động cho Cơ quan Hải quan nhưng đồng thời cũng ràng buộc trách nhiệm rất nặng đối với chính Cơ quan Hải quan. Cụ thể, nếu chủ động tạm dừng không đúng và gây thiệt hại cho chủ hàng, Cơ quan Hải quan ra quyết định phải bồi thường và thanh toán các chi phí phát sinh.

Cơ chế sàng lọc và điều hướng xử lý đối với hàng thương mại điện tử liên quan đến quyền SHTT

Với hàng hóa giao dịch qua thương mại điện tử, Hải quan không thể kiểm tra theo cách thủ công truyền thống, tức là mở từng kiện hàng để tìm hàng giả hay hàng xâm phạm quyền. Họ buộc phải đi theo nguyên tắc quản lý rủi ro: thu thập dữ liệu, sàng lọc dấu hiệu rủi ro, phân loại mức độ nghi ngờ, rồi mới quyết định có nâng mức kiểm tra, kiểm tra thực tế hay chuyển sang nhánh xử lý mạnh hơn. Vì vậy, Điều 14a không tạo ra một thủ tục mới cho doanh nghiệp, mà xác lập cách Hải quan tiếp cận riêng đối với hàng thương mại điện tử (TMĐT).

Điểm cốt lõi của Điều 14a là ở chỗ này: TMĐT không được xử lý như một “ngoại lệ”, mà được kéo vào cùng cơ chế sàng lọc dữ liệu của Hải quan. Nếu qua sàng lọc mà Hải quan nơi đăng ký tờ khai đã có căn cứ rõ ràng về hàng giả mạo quyền SHTT, vụ việc đi thẳng vào nhánh Điều 10a, tức là Hải quan chủ động tạm dừng. Nếu mới ở mức hàng hóa có dấu hiệu là hàng giả hoặc có dấu hiệu xâm phạm quyền SHTT, thì vụ việc được chuyển sang Điều 13 hoặc Điều 14 để xử lý theo tính chất cụ thể của hành vi. Nói cách khác, Điều 14a không phải là nhánh xử lý cuối cùng; nó là cơ chế “lọc – phân loại – điều hướng” đối với hàng thương mại điện tử.

Chính vì vận hành theo quản lý rủi ro, chất lượng dữ liệu đầu vào trở nên đặc biệt quan trọng. Một hồ sơ Điều 6 được chuẩn bị tốt — với dữ liệu quyền SHTT, ảnh chụp, dấu hiệu nhận diện, mã HS, đầu mối hợp pháp và đầu mối nghi ngờ — không phải là điều kiện pháp lý bắt buộc để Điều 14a vận hành, nhưng rõ ràng có thể giúp hệ thống Hải quan nhận diện rủi ro sớm hơn và đẩy vụ việc vào đúng nhánh xử lý nhanh hơn. Đây là lý do hàng TMĐT càng nhiều, hồ sơ giám sát càng không thể làm qua loa.

Kết luận

Nói ngắn gọn, nếu Điều 6 là bước đưa dữ liệu quyền SHTT vào hệ thống Hải quan, Điều 9 là công cụ đánh vào một lô hàng cụ thể, thì Điều 10a và Điều 14a là hai cơ chế để Hải quan chủ động hoặc điều hướng xử lý đúng vụ việc. Doanh nghiệp càng chuẩn bị sớm, cơ hội chặn đúng hàng giả tại cửa khẩu càng lớn.

Bross & Partners – a Vietnam-based intellectual property law firm ranked Tier 1 by Legal 500 Asia Pacific, with extensive experience in IP litigation and cross-border enforcement.
For further information, please contact:
🔗 LinkedIn https://www.linkedin.com/in/lequangvinh  | ✉️ vinh@bross.vn | 📞 +84 903 287 057
Zalo: +84 903 287 057 | Microsoft Teams: vinh@bross.vn
🌐 http://www.bross.vn

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *