Nhãn hiệu 3 chiều trong pháp luật quốc tế bao gồm cả vài thực tiễn bảo hộ hoặc từ chối nhãn hiệu hình dạng ở Hoa Kỳ và ba đề xuất cho Việt Nam
Nhãn hiệu 3 chiều trong pháp luật quốc tế bao gồm cả vài thực tiễn
bảo hộ hoặc từ chối nhãn hiệu hình dạng ở Hoa Kỳ và ba đề xuất cho Việt Nam[1]
Email: vinh@bross.vn
|
Nhãn hiệu 3 chiều Super Cub của hãng Honda được bảo hộ ở Nhật Bản |
Kẹo dẻo (kẹo chip, hoặc kẹo gấu Haribo) được bảo hộ ở Việt Nam |
Nhãn hiệu 3 chiều thiết kế và bố trí cửa bán lẻ của Apple Inc được bảo hộ ở Hoa Kỳ |
|
Nhóm 12: Xe máy |
Đăng ký số 273466 Nhóm 30: Kẹo |
Đăng ký Mỹ số 4,277,913 Nhóm 35: Cửa hàng bán lẻ máy tính, điện thoại, đồ điện tử,… |
Nhãn hiệu 3 chiều trong pháp luật quốc tế
Nhãn hiệu 3 chiều (three-dimensional trademark hoặc 3D trademark) được xem là một trong các loại nhãn hiệu phi truyền thống (non-traditional mark) theo cách phân loại của INTA[2]. Tương tự như INTA, APEC cũng xem nhãn hiệu 3 chiều là một dạng nhãn hiệu phi truyền thống[3]. Luật nhãn hiệu các nước nhìn chung không có định nghĩa riêng về nhãn hiệu 3 chiều mà chỉ coi nó là một dạng nhãn hiệu có thể được bảo hộ miễn là có chức năng chỉ dẫn nguồn gốc thương mại.
INTA sử dụng khái niệm hình dạng 3 chiều (three-dimensional shapes) vốn bao trùm hơn khái niệm nhãn hiệu hoặc dấu hiệu 3 chiều vì hình dạng 3 chiều còn bao gồm cả sản phẩm 3 chiều và hình dạng của bao bì 3 chiều. Theo một nghị quyết của INTA thì hiện tại không có quan điểm đồng thuận ở cấp độ quốc tế về việc liệu hình dạng 3 chiều có được bảo hộ với tư cách là nhãn hiệu hay không, hoặc nói cách khác việc bảo hộ nhãn hiệu 3 chiều khác nhau tùy theo pháp luật và thực tiễn mỗi quốc gia.[4]
Điều 15 Hiệp định TRIPs mà Việt Nam là thành viên, quy định “bất kỳ một dấu hiệu, hoặc tổ hợp các dấu hiệu, có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của doanh nghiệp này với hàng hoá hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác, đều có thể dùng làm nhãn hiệu. Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, chữ cái, chữ số, yếu tố hình hoạ và tổ hợp các mầu sắc hoặc tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó, phải được xem là có chức năng nhãn hiệu”. Điều luật này cũng cho phép các nước thành viên quy định rằng “trong trường hợp các dấu hiệu không có khả năng tự phân biệt với sản phẩm, dịch vụ liên quan, các nước thành viên có thể chỉ chấp thuận bảo hộ tùy thuộc vào bằng chứng chứng minh khả năng tự phân biệt đạt được thông qua quá trình sử dụng. Các thành viên cũng có thể bắt buộc dấu hiệu xin đăng ký phải là dấu hiệu nhìn thấy được”.
Lý do khó đăng ký nhãn hiệu 3 chiều
Khung luật pháp quốc tế cho thấy không có cụm từ “nhân hiệu 3 chiều” (three-dimensional trademark) trong định nghĩa về nhân hiệu của Hiệp định TRIPs, song khái niệm nhân hiệu (trademark) trong Hiệp định TRIPs rõ ràng được hiểu có thể bao gồm cả nhân hiệu 3 chiều vì Hiệp định TRIPs quy định rằng “bất kỳ một dấu hiệu, hoặc tổ hợp các dấu hiệu, có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của doanh nghiệp này với hàng hoá hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác, đều có thể dùng làm nhãn hiệu. Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, chữ cái, chữ số, yếu tố hình hoạ và tổ hợp các mầu sắc hoặc tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó, phải được xem là có chức năng nhãn hiệu”[5]. Mặt khác, vì Công ước Paris quy định điều kiện nộp đơn và cấp bảo hộ nhãn hiệu sẽ được quyết định ở mỗi nước thành viên thuộc liên hiệp theo pháp luật quốc gia của nước đó[6] nên rõ ràng thực tiễn về cấp hoặc từ chối bảo hộ đối với nhãn hiệu 3 chiều khác nhau ở mỗi nước không có gì là khó lý giải.
Theo Hiệp hội quốc tế về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ (“AIPPI”) được tổng hợp thành nghị quyết ở hội thảo Berlin năm 1963, Amsterdam năm 1989 có liên quan đến một nghiên cứu về thống nhất quyền của nhân hiệu[7], việc khó chấp nhận bảo hộ nhãn hiệu 3 chiều là câu chuyện pháp lý có thật ở nhiều quốc gia trên thế giới vì một lẽ đơn giản là nhãn hiệu 3 chiều có liên quan đến 2 thuộc tính pháp lý: tính phân biệt (distinctivess) và tính chức năng (functionality). Chiếu theo tiêu chuẩn đánh giá chung về tính phân biệt của nhãn hiệu thông thường thì đối với nhãn hiệu 3 chiều sẽ thấy khó chứng minh được hình dạng (shape) của sản phẩm hoặc bao bì (packaging) của nó có chức năng nhãn hiệu (chức năng chỉ dẫn nguồn gốc thương mại). Hơn nữa, nếu một sản phẩm có đặc trưng về tính năng nhất định thì các thương nhân khác cũng có thể muốn (và có thể là cần thiết) sử dụng hình dáng đó cho sản phẩm tương tự.
Và, chính Hiệp hội nhãn hiệu quốc tế (INTA) trong nghị quyết ngày 7/5/1997 về bảo hộ nhãn hiệu 3 chiều cũng thừa nhận rằng không có sự đồng thuận ở cấp độ quốc tế về việc liệu hình dáng 3 chiều có được bảo hộ với tư cách là nhãn hiệu hay không[8].
Thực tiễn từ chối hoặc bảo hộ nhãn hiệu 3 chiều ở Mỹ qua vài vụ việc
|
Nhãn hiệu 3 chiều: Hình chiếc chai (chỉ có 1 hình chiếu phối cảnh và không có yếu tố chữ đi kèm) Chủ nhãn hiệu: : FERNANDO BANUS RICOMA – ESTEBAN BANUS RICOMA (Spain) Nhóm 33: Rượu vang, đồ uống có cồn Lãnh thổ được bảo hộ: Mỹ Số đăng ký quốc tế: 885019 Đăng ký Mỹ số: 3,261,277 (Ví dụ 1) |
Hình ảnh nhãn hiệu ở đăng bạ chính của USPTO |
Hình ảnh sản phẩm ở trạng thái sử dụng và được USPTO chấp nhận khi duy trì hiệu lực |
|
Nhãn hiệu 3 chiều: Hình chiếc chai (chỉ có 1 hình chiếu phối cảnh và có chữ đi kèm) Chủ nhãn hiệu: SC MECRO SYSTEM SRL LIMITED LIABILITY COMPANY (Romania) Nhóm 5, 33: Lãnh thổ được bảo hộ: Mỹ Số đăng ký quốc tế: 1151159 Đăng ký Mỹ số: 4,496,634
(Ví dụ 2)
|
Nhãn hiệu 3 chiều nộp ban đầu |
Nhãn hiệu 3 chiều bị buộc sửa thành nét đứt theo yêu cầu của USPTO |
|
Hình chiếc chai (chỉ có 1 hình chiếu phối cảnh và không có yếu tố chữ đi kèm) Chủ nhãn hiệu: Heineken Brouwerijen B.V. Nhóm 32: Bia Số đăng ký quốc tế: 882707
(Ví dụ 3) |
|
|
Liên quan đến Ví dụ 1, ngày 9/7/2006, USPTO từ chối nhãn hiệu 3 chiều vì nhãn hiệu 3 chiều chỉ gồm cái chai với các vết lõm dọc theo đáy chai do đó không thể nhận biết được là dấu hiệu có chức năng nhãn hiệu. Theo án lệ của Tòa án tối cao Mỹ trong vụ Wal-Mart Stores, Inc. v. Samara Brothers, Inc., 529 U.S. 205, 54 USPQ2d 1065 (2000), nhãn hiệu 3 chiều nêu trên chỉ có thể được đăng ký nếu nó giành được chức năng nhãn hiệu nhờ quá trình sử dụng (secondary meaning).
Để quyết định liệu nhãn hiệu 3 chiều trên có được coi là có chức năng nhãn hiệu hay không, người nộp đơn phải cung cấp bằng chứng sử dụng có liên quan tới 3 yếu tố: (a) người nộp đơn đã sử dụng dấu hiệu 3 chiều trên bao lâu tại Mỹ, (b) dạng quảng cáo và số tiền đã bỏ ra quảng cáo tại Mỹ, (c) nỗ lực của người nộp đơn tại Mỹ để liên tưởng sản phẩm mang nhãn hiệu xin đăng ký.
Người nộp đơn khiếu nại từ chối nêu trên lập luận rằng USPTO đã sử dụng nhầm quy tắc xác định đặc tính phân biệt tự thân của nhãn hiệu 3 chiều vì nhãn hiệu 3 chiều xin đăng ký là bài trí thương mại (trade dress) chứ không phải là hình dạng của sản phẩm (product design) vì người nộp đơn không đi bán chai mà đi bán đồ uống có cồn do vậy quy tắc hoặc phép thử (test) phù hợp cho vụ việc này phải là xem xét 4 yếu tố theo án lệ Seabrook[9] gồm:
(a) liệu nhãn hiệu có phải là hình dáng hoặc kiểu dáng cơ bản thông thường,
(b) liệu nó có độc đáo hoặc khác thường trong lĩnh vực kinh doanh dụng cụ đựng đồ uống,
(c) liệu nó có phải chỉ là sự thay đổi nhỏ dựa trên các hình thức trang trí được sử dụng thông thường hoặc phổ biến cho một loại hàng hóa cụ thể mà được đánh giá bởi người tiêu dùng với tư cách chỉ là dạng trang trí, và
(d) liệu nó không có khả năng tạo nên ấn tượng thương mại khác biệt với các từ đi kèm không.
Viện dẫn áp dụng 4 yếu tố án lệ Seabrook, người nộp đơn biện luận rằng nhãn hiệu 3 chiều (chai) có bản chất đặc biệt. Cái chai không phải là một hình dạng hoặc thiết kế phổ biến. Đặc điểm trung tâm của chai là hình trụ với các rãnh dọc sâu ở nửa dưới của chai. Rãnh sâu có ở chai nước giải khát không phải là đặc điểm chung của chai nước thông thường. Không có bằng chứng nào trong số các bằng chứng được xem xét của USPTO cho thấy một chai nước giải khát thông thường có rãnh sâu nổi bật. Ngược lại, chai đựng đồ uống thường sử dụng các rãnh nông với độ phồng rộng. Cuối cùng, USPTO chấp nhận lập luận khiếu nại trên và cấp bảo hộ cho nhãn hiệu 3 chiều trên.
Liên quan đến Ví dụ 2, USPTO từ chối bảo hộ nhãn hiệu 3 chiều trên vì nó chỉ gồm một hình dạng không đặc trưng của bao bì hàng hóa và sẽ không được coi là nhãn hiệu, trừ khi có bằng chứng về khả năng phân biệt có được nhờ sử dụng trong thương mại. Viện dẫn đến án lệ Wal-Mart Stores, Inc. v. Samara Brothers, Inc., 529 Hoa Kỳ 205, 215, 54 USPQ2d 1065, 1069 (2000), USPTO lập luận tiếp rằng Tòa án tối cao phân biệt hai loại bài trí thương mại (trade dress): hình dạng sản phẩm (product design) và bao bì sản phẩm (product packaging). Nếu bài trí thương mại rơi vào loại bao bì sản phẩm thì nó không bao giờ có tính tự phân biệt. Khác với hình dạng sản phẩm, bao bì sản phẩm có thể có khả năng tự phân biệt và có thể được chấp nhận đăng ký trên Sổ đăng bạ chinh mà không cần chứng minh chức năng phân biệt có được nhờ quá trinh sử dụng (secondary meaning) bằng cách áp dụng 4 yếu tố thuộc án lệ Seabrook nêu trên.
Liên quan đến Ví dụ 3, trong trường hợp này nhãn hiệu 3 chiều gồm cái chai có hình dạng cơ bản thông thường có lẽ được sử dụng làm bao bì cho sản phẩm ở nhóm 32 của người nộp đơn. Người tiêu dùng sẽ không xem hình dạng của cái chai này là độc đáo hoặc đặc biệt trong lĩnh vực đồ uống. Các màu xanh lá cây và bạc không đủ làm cho nhãn hiệu 3 chiều có tính tự phân biệt hoặc ấn tượng thương mại khác biệt. Do đó, nhãn hiệu xin đăng ký bị từ chối vì không có đủ chức năng nhãn hiệu.
Pháp luật và thực tiễn bảo hộ nhãn hiệu 3 chiều ở Việt Nam
Một số loại nhãn hiệu phi truyền thống (nhưng chỉ dưới dạng nhìn thấy được) được bảo hộ bởi Việt Nam trong đó bao gồm cả nhãn hiệu 3 chiều (xem bảng bên dưới). Điều này cũng là hợp lý vì chính Việt Nam coi nhãn hiệu 3 chiều là một trong các đối tượng được bảo hộ trong định nghĩa nhãn hiệu của mình khi phát biểu rằng nhãn hiệu được bảo hộ nếu là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc[10].
|
Nhãn hiệu 3 chiều được bảo hộ trước 01/07/2006 |
Nhãn hiệu 3 chiều được bảo hộ sau 01/07/2006 |
|
Hình 1
Số đơn: 57231 Ngày nộp đơn: 20/09/2004 Chủ sở hữu: Unza International Limited Nhóm: 3 |
Hình 2
Số đăng ký quốc tế 1035201 Ngày nộp đơn: 04/03/2010 Nhóm: 25, 32 và 33 Chủ sở hữu: Bavaria NV Tình trạng: Đã đăng ký |
|
Bài trí thương mại được chấp nhận bảo hộ trước 01/07/2006 |
Bài trí thương mại được chấp nhận bảo hộ sau 01/07/2006 |
|
Hình 3
Số đăng ký: 79014 Ngày nộp đơn: 30/01/2007 Nhóm: 4 và 35 Chủ sở hữu: Công ty TNHH Nguyễn Cường |
Hình 4
Số đăng ký: 98240 Ngày nộp đơn: 25/03/2008 Nhóm: 35 Chủ sở hữu: Tổng Công ty thương mại Hà Nội |
|
Hình 5
Số đăng ký: 273466 Ngày nộp đơn: 04/06/2015 Chủ sở hữu: Rigo Trading S.A Nhóm 30: Bánh kẹo |
Hình 6
Số đăng ký quốc tế: 1321951 Ngày nộp đơn: 28/10/2016 Chủ sở hữu: Heineken Brouwerijen B.V. Nhóm 32: Bia
|
|
Hình 7
Số đăng ký: 273521 Ngày nộp đơn: 11/05/2015 Chủ sở hữu: Rigo Trading S.A Nhóm 30: Bánh kẹo
|
Hình 8
Số đăng ký: 258728 Ngày nộp đơn: 04/11/2013 Chủ sở hữu: Công ty cổ phần Hương Vang Nhóm 32: Bia, nước giải khát có ga… Nhóm 33: Rượu vodka, whisky, rượu vang… Nhãn hiệu được bảo hộ tổng thể. Không bảo hộ riêng “Men’ VODKA”, “A”, “GROUP”, “R”, hình cái chai.
|
|
Hình 9
Số đăng ký: 260574 Ngày nộp đơn: 13/11/2013 Chủ sở hữu: Eulab Laboratory SP. Z.O.O Nhóm 03, 05: Mỹ phẩm, dược phẩm, thực phẩm chức năng Ghi chú khác: Nhãn hiệu được bảo hộ tổng thể. Không bảo hộ riêng “born”, “baby wash”, “2 in 1”, “Amniosafe”, “Bioawash”, hình viên thuốc |
Hình 10
Số đăng ký quốc tế: 824804 Ngày nộp đơn: 27/04/2004 Chủ sở hữu: Société des Produits Nestlé SA Nhóm 30: Cà phê
Tình trạng: Đã đăng ký (Nhãn hiệu 3 chiều này lúc đầu bị từ chối vì thiếu khả năng phân biệt nhưng sau khi khiếu nại thì được cấp vì được xem là đã có chức năng nhãn hiệu thông qua sử dụng) |
Tuy vậy, trên thực tế cho thấy thời gian gần đây có vẻ như Cục Sở hữu trí tuệ thay đổi quan điểm theo hướng hầu như không chấp nhận bảo hộ cho bất kỳ nhãn hiệu hình dạng hoặc nhãn hiệu 3 chiều nào nữa với lý do từ chối chủ yếu dựa theo điều 74.2.b hoặc 74.2.c hoặc cả 2 căn cứ pháp lý này[11]. Nói cách khác, người ta thấy một thực tế là rất khó đăng ký thành công nhãn hiệu 3 chiều ở Việt Nam trong thời gian này.
Theo quan điểm của tác giả có thể lý giải thực tế thiếu nhất quán này thẩm định viên vẫn có tâm lý thẩm định nhãn hiệu 3 chiều như thể là nhãn hiệu truyền thống do thiếu quy chế xét nghiệm nhãn hiệu 3 chiều, hoặc quan điểm cá nhân cho rằng nhãn hiệu 3 chiều về cơ bản giống kiểu dáng công nghiệp – đối tượng mà lẽ ra nó phải được nộp đơn dưới dạng kiểu dáng công nghiệp chịu sự điều chỉnh của pháp luật về kiểu dáng công nghiệp chứ không phải pháp luật về nhãn hiệu[12].
|
Nhãn hiệu 3 chiều bị từ chối vì là hình dáng thông thường của sản phẩm |
Nhãn hiệu 3 chiều bị từ chối vì là hình dáng thông thường của sản phẩm |
|
Hình 11
Số đăng ký quốc tế: 1032321 Ngày nộp đơn: 21/01/2010 Chủ sở hữu: E Remy Martin & Co Nhóm 33: Rượu Tình trạng: Bị từ chối Lý do từ chối: Không có chức năng phân biệt |
Hình 12
Số đăng ký quốc tế: 1221382 Ngày nộp đơn: 08/08/2014 Chủ sở hữu: PARFUMS CHRISTIAN DIOR Nhóm 03: nước hoa, mỹ phẩm Tình trạng: Bị từ chối theo Điều 74.2.b & c Lý do từ chối: Không có chức năng phân biệt |
|
Hình 13
Số đăng ký quốc tế: 1214967 Ngày nộp đơn: 30/05/2014 Chủ sở hữu: Unilever N.V. Nhóm 03: Mỹ phẩm, chế phẩm tẩy rửa Tình trạng: Bị từ chối theo Điều 74.2.b & c Lý do từ chối: Không có chức năng phân biệt |
Hình 14
Số đơn: 4-2015-12360 Ngày nộp đơn: 19/05/2015 Nhóm 31: Trái cây tươi Người nộp đơn: Công ty cổ phần đầu tư thương mại và xuất nhập khẩu Nguyễn Gia Tình trạng: Bị từ chối theo Điều 74.2.b Lý do từ chối: dấu hiệu, biểu tượng, quy ước,…thông thường đã được sử dụng rộng rãi, thường xuyên biết đến |
Ba đề xuất cho Việt Nam
Dấu hiệu (nhãn hiệu) 3 chiều về bản chất là hình dạng 3 chiều của sản phẩm, bao gói, bao bì, bài trí thương mại (trade dress) có thể nhìn thấy được nên phải được coi là dấu hiệu có chức năng nhãn hiệu với điều kiện nó hoàn thành chức năng chỉ dẫn nguồn gốc thương mại của hàng hóa hoặc dịch vụ.
Việc Việt Nam thay đổi quan điểm từ chỗ trong quá khứ đồng ý cấp bảo hộ nhãn hiệu 3 chiều (như đã nêu từ Hình 1-9) đến chỗ thay đổi quan điểm thẩm định theo hướng từ chối hầu hết các nhãn hiệu 3 chiều (trừ Hình 5 & 7) vì lý do chúng là dấu hiệu, biểu tượng thông thường của hàng hóa đã được sử dụng rộng rãi thường xuyên là không đúng với tinh thần của pháp luật hiện hành vì: (a) chính Việt Nam đã thừa nhận dấu hiệu (nhãn hiệu) 3 chiều trong định nghĩa nhãn hiệu của mình là một đối tượng có khả năng được bảo hộ làm nhãn hiệu, và (b) thế giới xung quanh vẫn đang bảo hộ cho nhãn hiệu 3 chiều nhằm thúc đẩy thương mại hàng hóa và dịch vụ, khuyến khích doanh nghiệp sáng tạo và đưa vào thị trường sản phẩm mới hấp dẫn, ấn tượng và có năng lực cạnh tranh.
Trên cơ sở quy định pháp luật quốc tế, thực tiễn bảo hộ nhãn hiệu 3 chiều ở Mỹ và thực tiễn cấp bảo hộ nhãn hiệu 3 chiều trong quá khứ của Cục Sở hữu trí tuệ, tác giả có 3 đề xuất như sau:
- Cần sớm ban hành quy chế thẩm định nhãn hiệu mới thay thế cho quy chế cũ đã lạc hậu, trong đó có đề cập riêng về nguyên tắc thẩm định nhãn hiệu 3 chiều trên cơ sở nghiên cứu tiếp thu luật pháp và kinh nghiệm thực tiễn về bảo hộ nhãn hiệu 3 chiều ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển đặc biệt là Hoa Kỳ
- Nên coi một đối tượng bảo hộ là nhãn hiệu 3 chiều ngay cả khi người nộp đơn chỉ nộp 1 ảnh/hình vẽ duy nhất miễn là ảnh/hình vẽ đó được thể hiện 3 chiều của đối tượng (giống như hình chiếu phối cảnh của kiểu dáng công nghiệp) giống như nhãn hiệu 3 chiều thuộc các Ví dụ từ 1-3 hoặc Hình 10.
- Đối tượng bảo hộ 3 chiều nên được đánh giá về tính phân biệt tự thân theo cách, cụ thể là hình dạng 3 chiều của đối tượng bảo hộ được xem là có chức năng tự phân biệt nếu nó không phải là hình dạng phổ biến, thông thường, hoặc được sử dụng thường xuyên nhiều người biết tới không, và nó có đủ khả năng tạo nên ấn tượng thương mại khác biệt. Trường hợp chức năng tự phân biệt của hình dạng 3 chiều không thỏa mãn thì tiếp tục đánh giá các dấu hiệu hình hoặc chữ có mặt trên bao bì có chức năng nhãn hiệu hay không theo quy tắc truyền thống. Nếu chức năng tự phân biệt của bản thân hình dạng không thỏa mãn nhưng dấu hiệu khác có mặt trên hình dạng 3 chiều lại có chức năng nhãn hiệu thì chấp thuận cấp bảo hộ cho đối tượng bảo hộ đó nhưng loại trừ hình dạng chứa đối tượng đó (kết luận bảo hộ tổng thể, không bảo hộ riêng đối tượng loại trừ)[13].

Luật sư Lê Quang Vinh, Bross & Partners, đang trình bày
về nhãn hiệu 3 chiều tại Hội trường tầng 3 nhà B, Cục Sở hữu trí tuệ sang ngày 29/11/2019
Bross & Partners có kinh nghiệm hỗ trợ khách hàng đăng ký và thực thi bảo vệ thành công nhãn hiệu 3 chiều chống hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu 3 chiều ở Việt Nam. Nếu Quý khách hàng có nhu cầu cụ thể cần được tư vấn, vui lòng liên hệ: vinh@bross.vn; điện thoại 0903 287 057; Wechat: wxid_56evtn82p2vf22; Skype: vinh.bross
Bross & Partners, một công ty luật sở hữu trí tuệ được thành lập năm 2008, thường xuyên lọt vào bảng xếp hạng các công ty luật sở hữu trí tuệ hàng đầu của Việt Nam do các tổ chức đánh giá luật sư có uy tín toàn cầu công bố hàng năm như Managing Intellectual Property (MIP), World Trademark Review (WTR1000), Legal 500 Asia Pacific, AsiaLaw Profiles, Asia Leading Lawyers, Asia IP và Asian Legal Business (ALB). Với nhiều năm kinh nghiệm nổi bật và năng lực chuyên môn sâu khác biệt, Bross & Partners có thể giúp khách hàng bảo vệ hoặc tự vệ một cách hiệu quả trong các tranh chấp sở hữu trí tuệ phức tạp ở Việt Nam và nước ngoài liên quan đến bản quyền tác giả, quyền liên quan, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu/thương hiệu gồm cả nhãn hiệu 3 chiều và tên miền internet.
[1] Đây là bài viết do Luật sư Lê Quang Vinh – Bross & Partners chuẩn bị và trực tiếp trình bày theo lời mời của Cục Sở hữu trí tuệ trước khoảng gần 100 thẩm định viên nhãn hiệu thuộc trung tâm thẩm định nhãn hiệu sáng ngày 29/11/2019 tại Hội trường tầng 2, nhà B, Cục Sở hữu trí tuệ
[3] Xem “Report for APEC Survey on Non-Traditional Trade Marks”, April 2008 hoặc link: https://www.apec.org/Publications/2008/04/Report-for-APEC-Survey-on-Non-Traditional-Trade-Marks
[4] Xem “Board Resolutions Protectability of Three-Dimensional Marks of May 7, 1997”: https://www.inta.org/Advocacy/Pages/ProtectabilityofThree-DimensionalMarks.aspx
[5] Xem Điều 15 Hiệp định TRIPs
[6] Xem Điều 6(1) Công ước Paris
[7] Xem thêm: https://aippi.org/wp-content/uploads/2018/01/Registrability-of-3D-trademarks-Study-Guidelines-22Dec2017.pdf
[8] Xem INTA, Board Resolutions Protectability of Three-Dimensional Marks tại link: https://www.inta.org/Advocacy/Pages/ProtectabilityofThree-DimensionalMarks.aspx
[9] Theo án lệ tại link: https://www.ravellaw.com/opinions/b0b7c6657563d60c8b2bc7a1ac93dcb9, 4 yếu tố phải xem xét đánh giá khả năng tự phân biệt của bài trí thương mại (inherently distinctive trade dress) gồm:
(1) a common shape or design;
Related Posts
.jpg)
.png)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.png)
.png)
.png)
.png)
.jpg)
.jpg)
.jpg)

.png)

.jpg)
.jpg)
.png)
Leave a Reply