TỔNG QUAN VỀ CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ TẠI VIỆT NAM

18/06/2019

Email: vinh@bross.vn

Tổng quan

Luật SHTT Việt Nam 2005 sửa đổi năm 2009 quy định tại Điều 199 rằng bất kỳ Tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân khác thì tuỳ theo tính chất, mức độ xâm phạm, ­­có thể bị xử lý bằng biện pháp dân sự, hành chính hoặc hình sự.

Hành vi xâm phạm nhãn hiệu và sáng chế được bảo hộ là hành vi cá nhân, vì vậy, chủ thể quyền và bên vi phạm có thể áp dụng nhiều biện pháp xử lý không cần thiết phải đưa ra tòa như biện pháp hòa giải. Theo biện pháp nà, bên vi phạm sẽ tự nguyện ký kết Thư cam kết dừng vi phạm nhãn hiệu không điều kiện. Ngược lại, chủ thể quyền sẽ không thực hiện hành vi pháp lý nào chống lại bên vi phạm. Dưới đây là một số các biện pháp xử lý tại Việt Nam:

Biện pháp hòa giải

Ưu điểm

  • Xử lý nhanh chóng hành vi vi phạm và bên vi phạm sẽ cam kết dừng việc sử dụng các đối tượng vi phạm vô điều kiện;
  • Phí thực thi thường tiết kiệm hơn so với các biện pháp khác.

Nhược điểm

  • Không thể áp dụng đối với các hành vi vi phạm có số lượng lớn và phạm vi lớn ở nhiều địa điểm khác nhau;
  • Hiệu quả thấp đối với những bên thường xuyên vi phạm;
  • Nhiều khả năng, bên vi phạm sẽ tái phạm.

Biện pháp Hành chính

 

Theo Điều 211 Luật SHTT, hành vi vi phạm quyền SHTT có thể bị xử phạt Hành chính: (a) Thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây thiệt hại cho người tiêu dùng hoặc cho xã hội; (b) Không chấm dứt hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ mặc dù đã được chủ thể quyền sở hữu trí tuệ thông báo bằng văn bản yêu cầu chấm dứt hành vi đó; (c) Sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ theo quy định tại Điều 213 của Luật này hoặc giao cho người khác thực hiện hành vi này; (d) Sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán vật mang nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý được bảo hộ hoặc giao cho người khác thực hiện hành vi này.

Không giống như các nước khác, hành vi xâm phạm thường được ngăn chặn bằng biện pháp tư pháp, ví dụ tòa án chuyên trách về SHTT, biện pháp hành chính thương được các chủ thể quyền lựa chọn cho hầu hết các vụ việc xâm phạm quyền ở Việt Nam.

Ưu điểm:
  • Có nhiều cơ quan thực thi để chủ thể quyền lựa chọn và yêu cầu xử lý vi phạm như Thanh tra, Quản lý thị trường, Hải quan, công an Kinh tế và UBND tỉnh;
  • Thời gian xử lý thường ngắn, chỉ khoảng 1- 2 tháng;
  • Mức phạt áp dụng khá cao, mức cao nhất là 500,000,000VND (khoảng 24,000USD);
  • Quy định pháp luật để xác định vi phạm, mức phạm, hình thức phạt, biện pháp khắc phục hậu quả tương đối rõ ràng.

Nhược điểm:

  • Không có yêu cầu bồi thường thiệt hại khi xử lý hành vi xâm phạm bằng biện pháp hành chính;
  • Bên vi phạm có xu hướng tái phạm sau khi bị xử phạt;
  • Kể cả khi áp dụng mức phạt cao nhất được áp dụng, trong một số trường hợp, nếu người vi phạm ước tính rằng lợi nhuận thu được của mình thông qua việc sử dụng nhãn hiệu trùng hoặc gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đăng ký chủ sở hữu trí tuệ là lớn hơn nhiều so với số tiền phạt hành chính thì bên có thể sẵn sàng lặp lại hành vi đã bị xử phạt hành chính, khi hành vi lặp đi lặp lại sẽ không cấu thành tội phạm hình sự theo Điều 171 được sửa đổi Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi năm 2009 (xem phần dưới cùng của bài viết này)

Biện pháp Dân sự

Biện pháp Dân sự được quy định tại Điều 202 của Luật SHTT, theo đó, Tòa án là cơ quan có thẩm quyền buộc các tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền SHTT thực hiện các hành vi gồm: (a) Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm; (b) Buộc xin lỗi, cải chính công khai; (c) Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự; (d) Buộc bồi thường thiệt hại; (e) Buộc tiêu huỷ hoặc buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hoá, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ.

Thực thế rất ít vụ việc được xử lý vi phạm thông qua con đường tòa án. Có nhiều lý do để giải thích cho hiện tượng này, đầu tiên là do trình tự tố tụng kéo dài và trái qua nhiều cấp xét xử, VD: từ Tòa sơ thẩm, phúc thẩm, đến giám đốc thẩm…, thứ hai là phí tranh tụng cao hơn và thứ ba là các chủ thể quyền có thói quen áp dụng biệt pháp hành chính trong các vụ việc vi phạm. 

Ưu điểm:
  • Chủ thể quyền có thể vừa đưa ra yêu cầu xử lý vi phạm vừa yêu cầu bồi thường thiệt hại trong cùng 1 phiên tòa;
  • Không như biện pháp hành chính, chủ thể quyền và các bên vi phạm không có cơ hội trao đổi và tiếp cận với bằng chứng vi phạm và tranh luận về việc có hay không có hành vi vi phạm, tại phiên xét xử, các bên có thời gian và cơ hội để chứng minh hành vi vi phạm cũng như bên vi phạm có thể phản biện lại các cáo buộc.

Nhược điểm

  • Thủ tục tố tụng tương đối phức tạp và cồng kềnh, ví dụ từ giai đoạn sơ thẩm đến phúc thẩm để ra phán quyết cuối cùng, vì vậy, một phán quyền có thể kéo dài hơn nhiều so với việc ban hành một Quyết định xử phạt theo Biện pháp hành chính (thông thường khoảng từ 1.5 -2 năm).
  • Chi phí thực hiện phiên tòa cao hơn so với việc yêu cầu xử lý bằng biện pháp hành chính.

Biện pháp Hình sự

Theo quy định tại Điều 212 Luật SHTT, bất kỳ cá nhân thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự. Đáng lưu ý là theo Luật Hình sự 1999 đã sửa đổi, trách nhiệm hình sự không áp dụng cho tổ chức.

Theo Luật Hình sự 1999 đã sửa đổi, bất kỳ cá nhân nào xâm phạm quyền nhãn hiệu đã được bảo hộ, chỉ dẫn địa lý đã được xác định là hành vi vi phạm cố ý trong hoạt động sản xuất hoặc thương mại có thể bị phạt tù theo Điều 171 hoặc 156 Bộ Luật Hình sự.

Khái niệm “hàng giả” lần đầu tiên được quy định một cách đầy đủ và rõ ràng tại Nghị định 185/2013/ND-CP ngày 15/11/2013 có hiệu lực ngày 1/1/2014 trong đó hàng giả gồm: (a) hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng hóa; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với giá trị sử dụng, công dụng đã công bố hoặc đăng ký; (b) Hàng hóa có hàm lượng định lượng chất chính hoặc tổng các chất dinh dưỡng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản khác chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng hoặc quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa.

  • Có lợi nhuận từ 10 triệu đến 50 triệu đồng;
  • Gây hậu quả cho chủ thể quyền từ 50 triệu đến 150 triệu đồng; và
  • Buôn bán hàng giả có giá trị từ 50 triệu đến 150 triệu đồng.

Lưu ý rằng, theo Điều 105.1 của Bộ Luật Tố tụng hình sự, vụ việc hình sự sẽ chỉ được bị khởi tố khi có yêu cầu của chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý.

Các điều khoản cơ bản

Điều 171.1 Bộ Luật Hình sự 1999, tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ là “Người nào vì mục đích kinh doanh mà chiếm đoạt, sử dụng bất hợp pháp sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, tên gọi, xuất xứ hàng hoá hoặc các đối tượng sở hữu công nghiệp khác đang được bảo hộ tại Việt Nam gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ hai mươi triệu đồng đến hai trăm triệu đồng hoặc cải tạo không giam giữ đến hai năm

Điều 156.1 của Bộ Luật Hình sự 1999 cho hành vi sản xuất và buôn bán hàng giả “Người nào sản xuất, buôn bán hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới một trăm năm mươi triệu đồng hoặc dưới ba mươi triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 153, 154, 155, 157, 158, 159 và 161 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.”

Điều 213 của Luật SHTT về hàng giả mạo về SHTT


1. Hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật này bao gồm hàng hoá giả mạo nhãn hiệu và giả mạo chỉ dẫn địa lý (sau đây gọi là hàng hoá giả mạo nhãn hiệu) quy định tại khoản 2 Điều này và hàng hoá sao chép lậu quy định tại khoản 3 Điều này.

2. Hàng hoá giả mạo nhãn hiệu là hàng hoá, bao bì của hàng hoá có gắn nhãn hiệu, dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc của tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý.

3. Hàng hoá sao chép lậu là bản sao được sản xuất mà không được phép của chủ thể quyền tác giả hoặc quyền liên quan.

 

Nếu Quý khách hàng có nhu cầu cụ thể cần được tư vấn, vui lòng liên hệ vinh@bross.vn hoặc điện thoại 0903 287 057.

Bross & Partners, một công ty luật sở hữu trí tuệ được thành lập năm 2008, thường xuyên lọt vào bảng xếp hạng các công ty luật sở hữu trí tuệ hàng đầu của Việt Nam do các tổ chức đánh giá luật sư có uy tín toàn cầu công bố hàng năm như Managing Intellectual Property (MIP), World Trademark Review (WTR1000), Legal 500 Asia Pacific, AsiaLaw Profiles, Asia Leading Lawyers, Asia IP và Asian Legal Business (ALB). Với nhiều năm kinh nghiệm nổi bật và năng lực chuyên môn sâu khác biệt, Bross & Partners có thể giúp khách hàng bảo vệ hoặc tự vệ một cách hiệu quả trong các tranh chấp sở hữu trí tuệ phức tạp ở Việt Nam và nước ngoài liên quan đến bản quyền tác giả, quyền liên quan, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu/thương hiệu và tên miền internet.

 

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *