4 thay đổi doanh nghiệp không nên bỏ qua khi bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại cửa khẩu sau Thông tư 06/2026

20/04/2026

Thông tư 06/2026/TT-BTC sửa đổi Thông tư 13/2015/TT-BTC được sửa đổi bởi Thông tư 13/2020/TT-BTC (“Thông tư 06”) có hiệu lực từ ngày 1/3/2026 là thông tư quan trọng về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại biên giới hải quan. Đối với doanh nghiệp có hàng hóa xuất nhập khẩu, đặc biệt là doanh nghiệp đang đối mặt với nguy cơ hàng giả, hàng giả mạo nhãn hiệu hoặc hàng hóa xâm phạm quyền SHTT tại cửa khẩu, việc hiểu đúng các thay đổi này không chỉ là vấn đề tuân thủ thủ tục mà còn là vấn đề quản trị rủi ro. Bross & Partners giúp Quý Doanh nghiệp nắm bắt 4 thay đổi quan trọng ở Thông tư 06.

Thông tư 06 thay đổi yêu cầu đối với hồ sơ yêu cầu giám sát hải quan theo hướng đơn giản hóa và số hóa hơn

Ưu tiên nộp hồ sơ trên nền tảng điện tử: Điều 6 mới đặt Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan làm kênh nộp hồ sơ chính; doanh nghiệp chỉ quay lại nộp hồ sơ giấy khi hệ thống gặp sự cố kỹ thuật hoặc chưa đáp ứng. Đồng thời, hồ sơ có thể được khai theo các chỉ tiêu thông tin hoặc theo Mẫu số 01 Phụ lục II. Đây là dấu hiệu cho thấy thủ tục giám sát hải quan đang dịch chuyển từ tư duy “bản giấy” sang tư duy “dữ liệu điện tử”.

Đơn giản hóa việc chứng minh quyền: Đối với văn bằng bảo hộ hoặc giấy chứng nhận đã được cơ quan có thẩm quyền cấp dưới dạng điện tử trên trang thông tin chính thức, doanh nghiệp không phải nộp bản chụp mà chỉ cần khai đầy đủ thông tin trên đơn và cung cấp trang thông tin điện tử để cơ quan hải quan kiểm tra, đối chiếu.

Nới yêu cầu hình thức đối với giấy ủy quyền: So với Điều 6 cũ, Điều 6 mới có một bước thay đổi lớn là không còn yêu cầu hình thức của giấy uỷ quyền là phải được hợp pháp hóa lãnh sự trong trường hợp chủ thể quyền là tổ chức, cá nhân không có trụ sở tại Việt Nam.

Gia tăng trách nhiệm tự tuân thủ của doanh nghiệp: Đi cùng với thủ tục thông thoáng hơn là yêu cầu tự chịu trách nhiệm cao hơn, khi người nộp đơn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, hợp pháp và hợp lệ của toàn bộ nội dung khai và nộp trong hồ sơ

Thông tư 06 quy định rõ ràng hơn kiểm tra và xử lý hồ sơ đề nghị giám sát hải quan

Thủ tục kiểm tra và xử lý đơn đề nghị giám sát hải quan ở được quy định ở Điều 7 sửa đổi, theo đó Điều 7 mới tách rõ quy trình xử lý thành hai tầng. Trước hết, Cục Hải quan kiểm tra tính đầy đủ của bộ hồ sơ. Nếu hồ sơ chưa đầy đủ, trong 05 ngày làm việc phải có thông báo để bổ sung. Chỉ sau khi hồ sơ được xác định là đầy đủ, cơ quan hải quan mới bước sang giai đoạn kiểm tra nội dung.

Phạm vi kiểm tra hồ sơ đề nghị giám sát hải quan được mở rộng và thực chất hơn. Cục Hải quan không chỉ nhìn xem văn bằng còn hiệu lực hay không, mà còn kiểm tra thông tin của văn bằng/giấy chứng nhận, sự phù hợp giữa đơn và tài liệu gửi kèm, ảnh chụp, mô tả, thông tin về hàng hóa, cũng như nội dung và thời hạn hiệu lực của giấy ủy quyền. Nếu giấy quyền không phù hợp hoặc đã hết hạn thì đó có thể là một căn cứ độc lập để không chấp nhận hồ sơ.

Điều 7 mới quy định rõ hơn về thời hạn xử lý: trong vòng 20 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận đầy đủ hồ sơ, Cục Hải quan phải ra thông báo chấp nhận hoặc không chấp nhận. Điều này giúp doanh nghiệp theo dõi tiến độ tốt hơn, đồng thời buộc doanh nghiệp phải chuẩn bị hồ sơ đầy đủ và chính xác.

Cơ quan hải quan chủ động chặn hàng giả, hàng giả mạo sở hữu trí tuệ

Điểm mới gây chú ý nhất của Thông tư 06 là thẩm quyền chủ động chặn hàng giả, hàng giả mạo sở hữu trí tuệ được quy định ở Điều 10a. Theo Điều 10a, trong quá trình kiểm tra, giám sát và kiểm soát, nếu hải quan có căn cứ rõ ràng nghi ngờ hàng hóa là hàng giả mạo nhãn hiệu, hàng giả mạo chỉ dẫn địa lý hoặc hàng sao chép lậu, thì Đội trưởng Hải quan nơi đăng ký tờ khai có thể ra Quyết định tạm dừng làm thủ tục hải quan. Sau đó, hải quan phải thông báo cho chủ thể quyền hoặc người được ủy quyền hợp pháp trong thời hạn 08 giờ làm việc nếu có thông tin liên hệ trong hồ sơ.

Đặc trưng cơ bản của Điều 10a là nó ghi nhận rõ hơn cơ chế chủ động (ex officio) của hải quan. Nhưng doanh nghiệp không nên hiểu sai rằng từ nay không cần nộp hồ sơ giám sát nữa vì hải quan sẽ “tự lo”. Điều 10a chỉ phát huy khi hải quan đã có căn cứ rõ ràng để nghi ngờ, mà trên thực tế, chất lượng hồ sơ giám sát do doanh nghiệp nộp trước đó lại là yếu tố làm cho khả năng “tự phát hiện” của hải quan mạnh lên hoặc yếu đi. Nói cách khác, Điều 10a không thay thế giám sát mà nó làm cho việc đăng ký giám sát từ sớm trở nên đáng tiền hơn.

Xử lý hàng hóa giao dịch qua thương mại điện tử

Thông tư 06 cũng lần đầu bổ sung Điều 14a về kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến quyền SHTT giao dịch qua thương mại điện tử. Đây là lần đầu tiên hàng hóa e-commerce được đưa vào một điều riêng, cho thấy Việt Nam đã chính thức nhìn đây là một vùng rủi ro độc lập. Theo điều 14a, việc kiểm tra, giám sát được thực hiện trên cơ sở quản lý rủi ro; nếu có căn cứ rõ ràng về hàng giả mạo quyền sở hữu trí tuệ thì xử lý theo Điều 10a; còn việc xử lý hàng hóa có dấu hiệu là hàng giả hoặc xâm phạm quyền SHTT thì vẫn quay về Điều 13 và Điều 14 tương ứng của Thông tư.

Đặc trưng của Điều 14a là Cơ quan Hải quan đã chính thức kéo thương mại điện tử vào vùng điều chỉnh trực tiếp của cơ chế bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại biên giới. Với doanh nghiệp có hàng hóa xuất nhập khẩu qua nền tảng số, đây không còn là vấn đề nên quan tâm, mà là vấn đề phải quan tâm ngay.

Bross & Partners là hãng luật chuyên sâu về sở hữu trí tuệ, được Legal 500 Asia Pacific xếp hạng Nhất. Chúng tôi có nhiều kinh nghiệm trong việc bảo hộ quyền SHTT tại biên giới hải quan và xử lý các vụ việc thực thi quyền tại cửa khẩu. Vui lòng liên hệ để được tư vấn chi tiết.
Vui lòng liên hệ:
🔗 LinkedIn https://www.linkedin.com/in/lequangvinh  | ✉️ vinh@bross.vn | 📞 +84 903 287 057
Zalo: +84 903 287 057 | Microsoft Teams: vinh@bross.vn
🌐 http://www.bross.vn

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *