THỜI HIỆU KHỞI KIỆN, MỨC PHẠT VI PHẠM VÀ LÃI CHẬM TRẢ TRONG TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG – CƠ CHẾ XÁC ĐỊNH PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH
1. Đặt vấn đề
Trong thời đại bùng nổ về cơ sở hạ tầng của nước ta hiện nay, thì hợp đồng xây dựng thường xuyên là đối tượng tranh chấp tại Tòa án và Trọng tài. Tuy nhiên, trong nhiều năm qua, việc xác định pháp luật điều chỉnh các vấn đề như: Thời hiệu khởi kiện, Mức phạt vi phạm hợp đồng và Lãi chậm trả trong tranh chấp hợp đồng xây dựng vẫn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau.
Quan hệ xây dựng được điều chỉnh đồng thời bởi: Luật thương mại, Bộ luật dân sự và Luật xây dựng. Nhưng vì hệ thống pháp luật này quy định về Thời hiệu khởi kiện, Mức phạt vi phạm, Lãi chậm trả lại rất khác nhau nên không dễ để áp dụng khung pháp lý phù hợp trong quá trình giải quyết tranh chấp tại các cơ quan tài phán.
Một trong những cách hiểu phổ biến là: do hợp đồng xây dựng được ký giữa các doanh nghiệp, có mục đích sinh lợi, cùng với quy tắc ưu tiên áp dụng luật riêng – luật chuyên ngành… nên mặc nhiên ưu tiên áp dụng Luật Thương mại hơn Bộ luật Dân sự.
Tuy nhiên, cũng không ít những quan điểm ngược lại, cho rằng phải ưu tiên áp dụng chính Luật xây dựng 2014 và các văn bản hướng dẫn, nếu pháp luật về xây dựng không quy định thì phải áp dụng Bộ luật Dân sự 2015, không áp dụng Luật Thương mại 2005.

2. Không áp dụng quy định pháp luật về Thương mại để giải quyết tranh chấp hợp đồng xây dựng
Ngày 24/9/2019, Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ban hành Quyết định giám đốc thẩm số 12/2019/DS-GĐT và được đề xuất làm Dự thảo Án lệ số 06/2024[1], theo đó Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao đã đưa ra định hướng áp dụng pháp luật trong lĩnh vực này.
“Hợp đồng số 16/HĐTC/12 ngày 22/02/2012 giữa Công ty Q và Công ty T liên quan đến hoạt động xây dựng, được xác lập trên cơ sở Hợp đồng thi công xây dựng số 01/HP-XD/HĐ ngày 18/8/2011 giữa Công ty cổ phần điện M với Công ty Q, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại áp dụng Luật Thương mại để giải quyết vụ án là không đúng. Trong trường hợp này, cần xác định quan hệ tranh chấp liên quan đến lĩnh vực xây dựng, nên cần áp dụng pháp luật xây dựng. Trường hợp pháp luật xây dựng không quy định thì áp dụng Bộ luật Dân sự để giải quyết”.
Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao căn cứ vào khoản 1 Điều 138 Luật Xây dựng năm 2014 để xác định hợp đồng xây dựng là hợp đồng dân sự. Đây là điểm mấu chốt có ý nghĩa định danh bản chất pháp lý của loại hợp đồng này. Việc các bên đều là doanh nghiệp hay hoạt động thương mại có mục đích sinh lợi không làm thay đổi bản chất dân sự của hợp đồng xây dựng.
- Hệ quả pháp lý đối với thời hiệu khởi kiện
Luật Xây dựng không quy định thời hiệu khởi kiện. Do đó, theo nguyên tắc nêu trên, phải áp dụngĐiều 429 BLDS 2015, thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng là 03 năm.Không áp dụng thời hiệu 02 năm của Luật Thương mại.
- Hệ quả pháp lý đối với mức phạt vi phạm hợp đồng
Pháp luật xây dựng không giới hạn mức phạt vi phạm đối với hợp đồng xây dựng không có yếu tố vốn nhà nước. Do đó, khi phát sinh tranh chấp, cần áp dụng Điều 418 BLDS 2015. Theo quy định này, mức phạt vi phạm do các bên tự do thỏa thuận, không bị khống chế trần 8% như trong Luật Thương mại.
Còn đối với những hợp đồng xây dựng có yếu tố vốn nhà nước thì áp dụng khoản 2 Điều 146 Luật Xây dựng, với mức phạt vi phạm không quá 12%.
- Hệ quả pháp lý đối với lãi chậm trả
Tương tự, Luật Xây dựng không quy định cụ thể về lãi chậm thanh toán đối với hợp đồng xây dựng không có yếu tố vốn nhà nước. Do đó, căn cứ Điều 357 và Điều 468 BLDS 2015, bên vi phạm nghĩa vụ thanh toán phải trả lãi trên số tiền chậm trả theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận (không quá 20%/năm); nếu không thỏa thuận thì áp dụng mức lãi suất 10%/năm.
Còn đối với những hợp đồng xây dựng có yếu tố vốn nhà nước thì áp dụng khoản 2 Điều 43 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2025 của Chính Phủ, theo đó lãi suất quá hạn do ngân hàng thương mại nơi bên nhận thầu mở tài khoản thanh toán công bố.
Việc áp dụng cơ chế lãi suất trong Luật Thương mại gắn với lãi suất nợ quá hạn trung bình của 03 ngân hàng thương mại tại nơi Toà án giải quyết gây không ít khó khăn trong quá trình thu thập chứng cứ tại các ngân hàng, gây phiền toái cho cả cơ quan tài phán, ngân hàng lẫn đương sự, vô hình chung làm ảnh hưởng tới tiến độ giải quyết vụ kiện.
3. Giá trị của Quyết định giám đốc thẩm số 12/2019/DS-GĐT và thực tiễn áp dụng chưa được đồng nhất
Giá trị
Chắc hẳn, vẫn sẽ có những người chưa cảm thấy được thuyết phục với cách giải thích của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao, vì vẫn chưa giải quyết được vấn đề là tại sao không áp dụng quy định của Luật Thương mại, trong khi quan hệ xây dựng cũng nằm trong phạm vi điều chỉnh của Luật Thương mại và để điều chỉnh nó, Luật Thương mại đương nhiên “sát sườn” hơn đối với Bộ luật Dân sự. Nếu không áp dụng Luật Thương mại đối với những tranh chấp hợp đồng xây dựng nói chung thì vai trò của Luật Thương mại không còn đúng với bản chất và mục đích sinh ra của nó.
Thực tế, đây có thể coi là phán quyết “quyền lực” nhất về lĩnh vực xây dựng cơ bản. Vụ án mà tôi đang đề cập tới được bắt đầu Toà án cấp huyện, rồi được xét xử phúc thẩm bởi toà án cấp tỉnh, sau đó bị giám đốc thẩm bởi Toà án Cấp cao và cuối cùng bị Chánh án Toà án nhân dân Tối cao kháng nghị giám đốc thẩm và được chấp nhận giám đốc thẩm một lần nữa bởi cấp cao nhất là Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao (Giám đốc thẩm 02 lần). Một Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao có tính chất gần giống như một Án lệ, hoặc gần như Nghị quyết Hội đồng thẩm phán hay Công văn hướng dẫn nghiệp vụ của toàn ngành toà án.
Thực tiễn
Nhưng về tính chính danh, Quyết định giám đốc thẩm này chưa được nâng tầm lên thành Án lệ nên dường như tính phổ cập chưa rộng rãi, cũng không tính chất “lệ” bắt buộc áp dụng trong hoạt động xét xử. Trong các phán quyết của Toà án/trọng tài, tôi cũng chưa từng gặp trường hợp nào lại ghi nhận một Quyết định Giám đốc thẩm là căn cứ để giải quyết vụ án, mà chỉ căn cứ vào Nghị quyết, Công văn hướng dẫn nghiệp vụ của Hội đồng thẩm phán hay Án lệ đã được công bố. Vậy, khi chưa trở thành Án lệ thì nội dung định hướng của Quyết định Giám đốc thẩm này vẫn mãi chỉ là văn bản có giá trị tham khảo, bởi vậy vấn đề pháp luật điều chỉnh quan hệ tranh chấp hợp đồng xây dựng vẫn tồn tại những quan điểm không thống nhất, gây khó khăn cho chính giới tư vấn pháp luật khi hỗ trợ khách hàng soạn thảo hợp đồng, hay tư vấn đường lối khi giải quyết tranh chấp trên thực tế.
Ở một chiều kích khác, không ít Bản án đã có hiệu lực pháp luật áp dụng Luật thương mại để giải quyết tranh chấp Hợp đồng xây dựng. Dưới đây là một số phán quyết của Toà án cấp tỉnh áp dụng Điều 301 Luật Thương mại 2005 quy định mức phạt vi phạm không quá 8% theo Luật Thương mại, mặc cho sự hiện diện của Quyết định Giám đốc thẩm nêu trên:
- Bản án số 660/2022/KDTM-PT ngày 10/11/2022 về tranh chấp hợp đồng xây dựng của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh[2];
- Bản án 13/2023/KDTM-PT ngày 05/10/2023 về tranh chấp hợp đồng thi công của Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu[3];
- Bản án số 222/2024/KDTM-PT ngày 12/9/2024 về tranh chấp hợp đồng xây dựng của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh[4];
- Bản án số 138/2023/KDTM-PT ngày 29/6/2023 về tranh chấp trong lĩnh vực xây dựng của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội[5].
Còn các Tòa án áp dụng Bộ luật Dân sự khi giải quyết tranh chấp Hợp đồng xây dựng và không khống chế mức phạt vi phạm thì rất phổ biến. Bên cạnh đó, Bộ Xây dựng cũng có quan điểm các bên được tự do áp mức phạt theo thoả thuận nếu dự án xây dựng không sử dụng vốn nhà nước (tức áp dụng Bộ luật Dân sự)[6].
Tuy nhiên, việc bỏ khống chế mức trần phạt vi phạm có dẫn tới hệ quả nghiêm trọng nào không? Đường lối áp dụng Bộ luật Dân sự đối với Thời hiệu khởi kiện và Lãi chậm trả đã cho thấy sự hợp lý khi tạo ra hành lang pháp lý có lợi cho bên yếu thế. Nhưng với điều khoản Phạt vi phạm, việc không giới hạn mức phạt khi áp dụng Bộ luật Dân sự cần phải nhìn nhận kỹ lưỡng trước khi chuẩn hoá thành Án lệ hay Luật.
Trong bất kỳ mối quan hệ kinh doanh thương mại nào không chỉ riêng lĩnh vực xây dựng, việc xây dựng pháp luật cũng cần dựa trên nguyên tắc bảo vệ bên yếu thế hơn và khống chế quyền lực của bên có lợi thế. Ví dụ, trong lĩnh vực ngân hàng, ngân hàng không được thực hiện một số hành vi nhất định, ví dụ như không được ép người vay tiền phải mua bảo hiểm; hay trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, bên bán bảo hiểm phải chịu sự bất lợi khi giải thích hợp đồng nếu điều khoản trong hợp đồng bảo hiểm không rõ ràng (trong một giao dịch bình đẳng, thoả thuận không rõ ràng thì sẽ không có căn cứ phát sinh hiệu lực).
Trong lĩnh vực xây dựng, việc Phạt vi phạm thông thường được Chủ đầu tư hay Tổng thầu hay Nhà thầu chính áp dụng đối với các Nhà thầu. Ở mối quan hệ này, Nhà thầu thường là bên yếu thế hơn trong mối quan hệ với Chủ đầu tư hay Tổng thầu, ngoài việc tự nguyện thoả thuận thì cũng không tránh khỏi việc bị áp đặt một số điều khoản bất lợi như mức phạt vi phạm quá cao. Nếu không chấp nhận “dưới kèo” thì ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh, “vắng mợ thì chợ vẫn đông”, đành phải phó mặc cho may rủi.
Không phải ngẫu nhiên mà quy định giới hạn mức phạt vi phạm 8% tại Luật Thương mại được ra đời và nếu nó bất hợp lý thì đã không tồn tại những 20 năm qua. Khi vi phạm hợp đồng thì bên có lỗi đã phải chịu bồi thường thiệt hại rồi, vì bồi thường thiệt hại có thể đi cùng với phạt vi phạm trong cùng hợp đồng. Cho nên, quan điểm của người viết là mức phạt hợp đồng phải phù hợp để không quá cao, gây bất lợi nghiêm trọng cho bên yếu thế. Nếu không, khoản phạt này không còn mang ý nghĩa cảnh báo cho các bên khi tham gia vào quan hệ hợp đồng nữa mà sẽ kéo theo sự bất bình đẳng cho các bên, phần thiệt sẽ luôn thuộc về bên bị áp đặt.
Lưu ý miễn trừ: Bài viết này chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin và bình luận pháp lý chung, không phải là ý kiến tư vấn pháp lý toàn diện cho bất kỳ trường hợp cụ thể nào. Quý độc giả nên tham khảo ý kiến của luật sư hoặc chuyên gia pháp lý có kinh nghiệm trong trường hợp phát sinh tranh chấp hoặc cần hướng dẫn chi tiết đối với vụ việc của mình.
Lê Tuấn Quang
Attorney at law
BROSS & PARTNERS
Advocates & Solicitors | Patent, Trademark & Copyright
M: (+ 84) 96.962.1593 – Tel: (+824-4) 3555 3466 – E: quang.lt@bross.vn – W: www.bross.vn
A: 21th Floor, Charm Vit Tower, No. 117 Tran Duy Hung Str., Yen Hoa, Hanoi, Vietnam
[1] https://anle.toaan.gov.vn/webcenter/portal/anle/chitietanleduthao?dDocName=TAND332624
[2] https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta1256837t1cvn/chi-tiet-ban-an
[3] https://thuvienphapluat.vn/banan/ban-an/ban-an-ve-tranh-chap-hop-dong-thi-cong-so-132023kdtmpt-329737
[4] https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta1763683t1cvn/chi-tiet-ban-an
[5] https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta1346091t1cvn/chi-tiet-ban-an
[6] https://thuvienphapluat.vn/cong-van/Xay-dung-Do-thi/Cong-van-48-BXD-KTXD-2019-huong-dan-phat-vi-pham-hop-dong-xay-dung-530847.aspx
Để lại một bình luận