Tiếng Việt English  
Home Our People Experiences Associations Contact us
4 bất cập của cơ chế phản đối cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu ở Việt Nam
(Ngày đăng: 2020-07-31)

4 bất cập của cơ chế phản đối cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu ở Việt Nam

 

Email: vinh@bross.vn

 

Phản đối cấp bảo hộ nhãn hiệu là một thủ tục pháp lý cho phép cá nhân hoặc tổ chức có thể nộp ý kiến bằng văn bản gửi Cơ quan đăng ký nhãn hiệu (Cục Sở hữu trí tuệ - Bộ Khoa học và Công nghệ) yêu cầu không cấp giấy chứng nhận đăng ký cho nhãn hiệu xin đăng ký của người khác tại Việt Nam vì lý do mà cá nhân hoặc tổ chức này cho rằng nếu nhãn hiệu được đăng ký sẽ dẫn tới xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Như vậy, phản đối là một thủ tục pháp lý phản ánh tranh chấp pháp lý giữa ít nhất 2 chủ thể gồm một bên gọi là bên phản đối (cá nhân hoặc tổ chức) và bên kia được gọi là chủ đơn (người nộp đơn) xin đăng ký nhãn hiệu (thương hiệu)[1]

 

Theo quan sát của tác giả, trong hơn một thập kỷ qua tính từ thời điểm có hiệu lực 1/7/2006 của Luật Sở hữu trí tuệ, cơ chế phản đối (hệ thống phản đối) cấp bảo hộ nhãn hiệu của Việt Nam bộc lộ nhiều bất cập. Dưới đây là 4 bất cập đáng quan tâm nhất đang tồn tại trong hệ thống phản đối nhãn hiệu ở Việt Nam.

 

  1. Thời hạn cho phép phản đối quá dài. Theo quy định hiện tại thì thời hạn phản đối sẽ kéo dài ít nhất là 9 tháng vì pháp luật quy định bên thứ ba có quyền nộp ý kiến yêu cầu không cấp tính từ thời điểm đơn đăng ký nhãn hiệu được công bố cho đến trước khi quyết định cấp văn bằng bảo hộ được ban hành trong khi đó thời hạn thẩm định nội dung đơn nhãn hiệu là 9 tháng tính từ thời điểm công bố[2]. Thực tế cho thấy Cục Sở hữu trí tuệ không đủ năng lực để thẩm định đơn đăng ký nhãn hiệu đúng hạn 9 tháng mà thường kéo dài thêm từ 6 đến 9 tháng nữa dẫn đến hệ quả là thời hạn nộp đơn phản đối có thể sẽ là 15 đến 18 tháng. Nhìn ra thế giới thì không có quốc gia nào quy định thời hạn phản đối dài như vậy. Ví dụ thời hạn phản đối ở Trung Quốc là 3 tháng[3] ở Mỹ là 1 tháng (nếu tính cả thời gian xin gia hạn nộp phản đối thì tối đa cũng chỉ là 6 tháng)[4].

 

  1. Cơ chế phản đối không nhất quán giữa phản đối đơn đăng ký quốc tế chỉ định Việt Nam và đơn đăng ký quốc gia nộp trực tiếp tại Cục Sở hữu trí tuệ. Thông tư 01/2007 bỏ sót quy định về thời điểm cho phép nộp đơn phản đối nhãn hiệu đăng ký quốc tế (do Việt Nam không công bố lại đơn quốc tế) đã nêu trên dẫn đến hệ quả là người ta không biết khi nào được phép nộp phản đối nhãn hiệu đăng ký quốc tế. Hệ thống phản đối hiện tại còn bộc lộ tính không nhất quán (không đồng bộ) giữa đơn đăng ký nhãn hiệu quốc gia và đơn đăng ký quốc tế nhãn hiệu trong đó chứa nội dung bên thứ ba phản đối cấp bảo hộ riêng cho một thành phần hoặc yếu tố cấu thành nhãn hiệu xin đăng ký, cụ thể là Cục Sở hữu trí tuệ quyết định ghi rõ dấu hiệu loại trừ trên giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu và cập nhật vào đăng bạ quốc gia nhưng điều này lại không hề có cơ chế tương tự đối với nhãn hiệu đăng ký quốc tế. Có một số quan điểm cho rằng hiện tại đang có sự phân biệt đối xử giữa đăng ký quốc tế và đăng ký quốc gia liên quan đến tuyên bố phạm vi bảo hộ (disclaimer) ở Việt Nam, cụ thể là chỉ có nhãn hiệu đăng ký quốc gia mới xuất hiện disclaimer còn đăng ký quốc tế thì không. Sự bất cập này còn gây khó khăn cho quá trình thực thi, xác định phạm vi bảo hộ của nhãn hiệu đăng ký quốc tế và dự đoán rủi ro xâm phạm nhãn hiệu trong kinh doanh[5].

 

  1. Hệ thống phản đối dễ bị lạm dụng. Hệ thống phản đối đơn hiện tại rất dễ bị lạm dụng nhằm mục đích kéo dài thời gian thẩm định đơn so với thời hạn thẩm định thông thường. Vì pháp luật cho phép bên thứ ba phản đối cấp văn bằng bảo hộ tính từ ngày đơn đăng ký sở hữu công nghiệp được đăng trên công báo sở hữu công nghiệp cho đến trước khi quyết định cấp bảo hộ được ban hành nên có thể thấy rằng bất kỳ bên thứ ba nào cũng có quyền nộp phản đối mà không cần phải chứng minh mình có tư cách nộp đơn phản đối dẫn đến làm xuất hiện quá nhiều đơn phản đối cần phải giải quyết. Thông tư 01/2007/TT-BKHCN quy định thời hạn dành cho người nộp đơn trả lời ý kiến phản đối của người thứ ba không tính vào thời hạn dành cho Cục Sở hữu trí tuệ thực hiện các thủ tục liên quan theo quy định[6] do vậy việc xử lý đơn phản đối trên thực tế có thể kéo dài thêm nhiều tháng vì gần như không có đơn đăng ký nhãn hiệu nào mà được Cục Sở hữu trí tuệ hoàn thành đúng thời hạn thẩm định nội dung 9 tháng. Thực tế cho thấy đơn đăng ký nhãn hiệu bị trì hoãn thẩm định từ 21-24 tháng tiếp tục bị bên thứ 3 làm dụng bằng cách nộp phản đối làm cho việc giải quyết đơn nhãn hiệu bị phản đối này có thể kéo dài thêm từ một đến vài năm nữa.

 

  1. Không có cơ chế phản đối dựa trên nhãn hiệu nổi tiếng. Cục Sở hữu trí tuệ lúng túng hoặc bế tắc xem xét giải quyết các hồ sơ phản đối dựa trên nhãn hiệu nổi tiếng và trong nhiều trường hợp đành gác hồ sơ đó lại sau nhiều năm mà chưa thể giải quyết. Lý do dẫn đến điều này là phản đối nhãn hiệu nổi tiếng khác với phản đối nhãn hiệu thông thường vì giải quyết phản đối dựa trên nhãn hiệu nổi tiếng lại đòi hỏi phải có thủ tục công nhận nhãn hiệu nổi tiếng[7] trong khi pháp luật hiện hành không có hướng dẫn về vấn đề công nhận nhãn hiệu nổi tiếng theo điều 75 Luật Sở hữu trí tuệ.

 

Bross & Partners có nhiều kinh nghiệm hỗ trợ khách hàng phản đối, chống phản đối hoặc khiếu nại các từ chối có liên quan đến nhãn hiệu (thương hiệu) ở Việt Nam và nước ngoài. Nếu Quý khách hàng có nhu cầu cụ thể cần được tư vấn, vui lòng liên hệ vinh@bross.vn hoặc điện thoại 0903 287 057.

 

Bross & Partners, một công ty luật sở hữu trí tuệ được thành lập năm 2008, thường xuyên lọt vào bảng xếp hạng các công ty luật sở hữu trí tuệ hàng đầu của Việt Nam do các tổ chức đánh giá luật sư có uy tín toàn cầu công bố hàng năm như Managing Intellectual Property (MIP), World Trademark Review (WTR1000), Legal 500 Asia Pacific, AsiaLaw Profiles, Asia Leading Lawyers, Asia IP và Asian Legal Business (ALB). Với nhiều năm kinh nghiệm nổi bật và năng lực chuyên môn sâu khác biệt, Bross & Partners có thể giúp khách hàng bảo vệ hoặc tự vệ một cách hiệu quả trong các tranh chấp sở hữu trí tuệ phức tạp ở Việt Nam và nước ngoài liên quan đến bản quyền tác giả, quyền liên quan, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu/thương hiệu và tên miền internet.

 



[1] Đừng nhầm thủ tục phản đối cấp bảo hộ nhãn hiệu với thủ tục hủy bỏ hiệu lực của nhãn hiệu. Xem thủ tục phản đối cấp bảo hộ nhãn hiệu ở bài Thủ tục, trình tự và căn cứ pháp lý của đơn phản đối cấp đăng ký nhãn hiệu (thương hiệu) ở Việt Namcó ở link: http://bross.vn/newsletter/ip-news-update/Thu-tuc-trinh-tu-va-can-cu-phap-ly-cua-don-phan-doi-cap--dang-ky-nhan-hieu-thuong-hieu-o-Viet-Nam. Xem thủ tục hủy hiệu lực nhãn hiệu ở bài “Thủ tục, trình tự, căn cứ pháp lý và chứng cứ liên quan đến đề nghị hủy bỏ hiệu lực nhãn hiệu được bảo hộ ở Việt Nam có ở link: http://bross.vn/newsletter/ip-news-update/Thu-tuc-trinh-tu-can-cu-phap-ly-va-chung-cu-lien-quan--den-de-nghi-huy-bo-hieu-luc-nhan-hieu-duoc-bao-ho-o-Viet-Nam

[2] Điều 119 Luật Sở hữu trí tuệ

[3] Điều 33 Luật nhãn hiệu Trung Quốc năm 2013. Xem: https://wipolex.wipo.int/en/text/341321

[5] Xem thêm bài viết: “Tìm hiểu thực tiễn áp dụng nguyên tắc “không bảo hộ riêng” hay còn gọi là “disclaimer” liên quan đến nhãn hiệu ở Việt Nam và những bất cập đáng chú ý” tại link: http://bross.vn/newsletter/ip-news-update/TIM-HIEU-THUC-TIEN-AP-DUNG-NGUYEN-TAC-%E2%80%9CKHONG-BAO-HO-RIENG%E2%80%9D-HAY-CON-GOI-LA-%E2%80%9CDISCLAIMER%E2%80%9D-LIEN-QUAN-DEN-NHAN-HIEU-O-VIET-NAM-VA-NHUNG-BAT-CAP-DANG-CHU-Y-1467

[6] Xem mục 1, điểm 6.6 Thông tư 01/2007/TT-BKHCN

[7] Nhãn hiệu nổi tiếng (well-known trademark) là một vấn đề pháp lý phức tạp. Thực tiễn trong 10 năm qua cho thấy có nhiều vấn đề khó khăn, bất cập liên quan đến bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng nảy sinh trong cả thủ tục xác lập quyền lẫn thực thi bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nổi tiếng, chẳng hạn như tình trạng “tự phong” khá phổ biến nhãn hiệu có trước là nhãn hiệu nổi tiếng làm căn cứ từ chối bảo hộ nhãn hiệu nộp sau bất luận hàng hóa, dịch vụ của nhãn hiệu nộp sau không tương tự với nhãn hiệu có trước, hoặc tình trạng đánh đồng phạm vi bảo hộ của các nhãn hiệu nổi tiếng đều như nhau, hoặc sự dè dặt và lúng túng khi thụ lý và giải quyết các tranh chấp hoặc các yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu nổi tiếng bởi cơ quan thực thi trong bối cảnh chưa có hướng dẫn cụ thể về yêu cầu chủ thể quyền phải nộp tài liệu chứng cứ chứng minh sự nổi tiếng của nhãn hiệu theo 8 tiêu chí nêu tại Điều 75 của Luật sở hữu trí tuệ. Xem thêm “Báo cáo nghiên cứu nhãn hiệu nổi tiếng” do INTA và Bộ KHCN tài trợ có ở link: http://bross.vn/newsletter/ip-news-update/DOC-THAM-KHAO-BAO-CAO-NGHIEN-CUU--NHAN-HIEU-NOI-TIENG-O-VIET-NAM-%E2%80%93-THUC-TRANG-VA-GIAI-PHAP-1679

 

Bookmark and Share
Relatednews
Bross & Partners’ Proposal Regarding Limitations and Exceptions to Copyright Already Included in the Latest Draft Law Revision to the Vietnamese IP Law
Đề xuất của Bross & Partners về giới hạn và ngoại lệ không xâm phạm quyền tác giả và quyền liên quan được đưa vào Dự thảo Luật SHTT sửa đổi
How Did India Win in the Legal Battle Against Biopiracy Regarding Basmati Hybrid Rice Variety Patented by the USPTO and Valuable Lesson for Vietnam
Báo Kinh Tế Sài Gòn Online - Đâu là chiến lược thượng sách giành lại thương hiệu gạo ST25 ở Mỹ?
Báo Kinh Tế Sài Gòn và Kinh Tế Sài Gòn Online - Cảnh giác với giả mạo sinh học nông sản
Thời Báo Kinh Tế Việt Nam - Chống giả mạo sinh học cho nông sản Việt: Nhìn từ cuộc chiến pháp lý của Ấn Độ
Kinh nghiệm quý báu dành cho Việt Nam nhìn từ vụ Chính phủ Ấn Độ chống giả mạo sinh học giống lúa Basmati
Giả mạo sinh học (biopiracy) – một hình thức mạo danh thương hiệu nông sản đặc biệt nguy hiểm
Biopiracy – a Dangerous Form of Impersonation of Agricultural Brand Names
Thông tin hữu ích về hệ thống đăng ký nhãn hiệu ở Vương Quốc Anh
Đăng ký nhãn hiệu (thương hiệu) ở Tiểu lục địa Ấn Độ gồm Ấn Độ, Sri Lanka, Bangladesh, Nepal, Bhutan và Maldives

Newsletter
Guidelines
Doing business in Vietnam
Intellectual Property in Vietnam
International Registrations
Copyright © Bross & Partners All rights reserved.

         
Cửa thép vân gỗcua thep van go