Bình Luận: Quyền Tự Định Đoạt Của Đương Sự Trong Việc Xác Định Quan Hệ pháp luật Tranh Chấp Khi Khởi Kiện Vụ Án Dấn Sự

20/11/2025

Quyền tự định đoạt của đương sự luôn được coi là nguyên tắc nền tảng trong tố tụng dân sự. Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, phạm vi yêu cầu và cách thức mô tả quan hệ pháp luật tranh chấp để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. Nguyên tắc này được ghi nhận trực tiếp tại Khoản 1 Điều 5[1] Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, theo đó Tòa án chỉ có thể thụ lý và giải quyết vụ án trong phạm vi yêu cầu mà đương sự đã nêu.

Tuy nhiên, một quy định khác trong Bộ luật này mà cụ thể là Điểm c Khoản 2 Điều 203[2] Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 lại đặt ra nhiệm vụ cho Thẩm phán phải “xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự và pháp luật cần áp dụng”. Sự tồn tại song song của hai quy định này đặt ra câu hỏi lớn trong quá trình giải quyết án rằng: liệu quan hệ tranh chấp phải theo cách đương sự xác định trong đơn khởi kiện theo yêu cầu khởi kiện, hay theo cách mà Thẩm phán hiểu và đánh giá bản chất sự việc?

Chính sự giao thoa giữa hai quy định nói trên đã dẫn đến những bất cập đáng kể trong thực tiễn. Nhiều vụ án dân sự hiện nay cho thấy Tòa án thụ lý theo một quan hệ tranh chấp hoàn toàn khác với quan hệ mà nguyên đơn nêu trong đơn khởi kiện. Khi Thẩm phán/Tòa án tự thay đổi bản chất tranh chấp, hệ quả phát sinh là toàn bộ chiến lược chứng minh, phạm vi pháp luật áp dụng, thậm chí thẩm quyền giải quyết cũng bị thay đổi theo. Đương sự bị đặt vào tình thế không mong muốn là yêu cầu khởi kiện của họ được chuyển hóa sang một “dạng tranh chấp mới” mà họ không lựa chọn và thậm chí không có đủ điều kiện chứng minh.

Một Số Quan Điểm

Quan điểm thứ nhất cho rằng, quyền khởi kiện và quyền đưa ra yêu cầu khởi kiện là quyền tự quyết của đương sự, tuy nhiên việc xác định quan hệ tranh chấp là thẩm quyền của Tòa án. Do đó, mặc dù trong Đơn khởi kiện, nguyên đơn nêu rõ căn cứ khởi kiện và quan hệ tranh chấp mong muốn được Tòa án giải quyết, nhưng Tòa án sẽ thụ lý giải quyết quan hệ tranh chấp dựa vào bản chất của vụ việc mà không phụ thuộc vào ý chí của nguyên đơn.

Ví dụ: Công ty A khởi kiện Công ty B yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, sau khi đánh giá đơn khởi kiện của Công ty A và nhận thấy bản chất của vụ việc là tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ, nên Tòa án ra thông báo thụ lý vụ án “Tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ”.

Quan điểm thứ hai cho rằng, người khởi kiện, đương sự có yêu cầu dân sự đề nghị Tòa án giải quyết hoàn toàn có quyền tự quyết định phạm vi yêu cầu khởi kiện và quyền tự xác định quan hệ tranh chấp. Tòa án chỉ có thẩm quyền thụ lý giải quyết trong phạm vi yêu cầu khởi kiện, bao gồm cả việc xác định quan hệ tranh chấp của đương sự.

Ví dụ: Công ty A khởi kiện Công ty B yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, sau khi đánh giá đơn khởi kiện của Công ty A và nhận thấy bản chất của vụ việc là tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ, tuy nhiên nếu đơn khởi kiện đáp ứng các quy định về hình thức, nội dung tại Điều 189 BLTTDS 2015 thì Tòa án vẫn phải thụ lý đơn khởi kiện của Công ty A theo ý chí của nguyên đơn và ra thông báo thụ lý vụ án “Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”.

Quan điểm của các tác giả, thống nhất với quan điểm thứ hai bởi lẽ:

Thực tiễn cho thấy, khi Tòa án thụ lý vụ án theo quan điểm thứ nhất, quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện dễ bị ảnh hưởng. Đặc biệt trong những vụ việc có quan hệ tranh chấp phức tạp, việc Tòa án tự ấn định quan hệ tranh chấp thay cho đương sự có thể dẫn đến vi phạm nghiêm trọng các quy định tố tụng, nếu không tôn trọng quyền tự quyết của đương sự trong việc xác định quan hệ tranh chấp, cụ thể như những trường hợp được nêu dưới đây.

Thực Tiễn Áp Dụng Và Những Hệ Lụy Phát Sinh

Làm mất quyền của đương sự: Công ty A khởi kiện Công ty B yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, sau khi đánh giá đơn khởi kiện của Công ty A và cho rằng bản chất của vụ việc là tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ, Tòa án ra thông báo thụ lý vụ án “Tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ”.

Trong thực tiễn, đối với việc “đòi bồi thường thiệt hại”, các đương sự có thể lựa chọn vận dụng nhiều quy định pháp luật trong nhiều quan hệ pháp luật khác nhau để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình. Và đối với mỗi quan hệ tranh chấp, pháp luật có những quy định cụ thể về nguyên tắc chứng minh. Trong trường hợp tại ví dụ nêu trên, Công ty A có thể đã lựa chọn quan hệ tranh chấp phù hợp với các căn cứ chứng minh và nơi cư trú của mình để thuận tiện trong việc giải quyết vụ án.

Tuy nhiên, quan điểm cho rằng Tòa án có quyền xác định quan hệ tranh chấp và thụ lý vụ án theo hướng “tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ” đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích chính đáng của Công ty A, khi buộc Công ty A phải tuân thủ các nguyên tắc chứng minh cho quan hệ “tranh chấp sở hữu trí tuệ” khi quan điểm của Công ty là A là chứng minh yêu cầu khởi kiện theo nguyên tắc về “bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”. Hơn nữa, đáng lẽ Công ty A được quyền lựa chọn Tòa án tại địa chỉ của mình theo nguyên tắc khởi kiện đòi “bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”, nhưng vì việc xác định lại quan hệ tranh chấp của Tòa án đã khiến cho Công ty A mất đi quyền lợi hợp pháp này.  

Áp dụng sai quy định pháp luật: sau khi Tòa án xác định quan hệ tranh chấp và thụ lý vụ án “Tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ” mà không phải “bồi thường thiệt hại hợp đồng” thì theo nguyên tắc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật, các quy định được ưu tiên áp dụng để giải quyết vụ án là các quy định về Luật sở hữu trí tuệ thay vì Bộ luật dân sự. Như vậy, các căn cứ chứng minh yêu cầu khởi kiện “đòi bồi thường thiệt hại” của người khởi kiện sẽ không thể áp dụng trong vụ án. Tòa án cũng sẽ áp dụng các nguyên tắc về chứng minh thiệt hại theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ mà chắc chắn sẽ không phù hợp với các căn cứ chứng minh của người khởi kiện về “bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”. Đây là một thực trạng có thật và gây khó khăn cho đương sự, xuất phát từ việc “phủ quyết” xác định quan hệ tranh chấp theo quan điểm của Tòa án mà không tôn trọng quyền tự quyết của đương sự.

Giải quyết Vụ án vượt quá yêu cầu khởi kiện: với yêu cầu khởi kiện ban đầu được Công ty A nêu rõ là “đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”, tuy nhiên trong trường hợp Tòa án xác định và thụ lý vụ án theo quan hệ “tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ” việc giải quyết vụ án của Tòa án cuối cùng sẽ dẫn đến hệ quả buộc Công ty A phải chứng minh Công ty B có hành vi “xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ”. Trong trường hợp Công ty B có hành vi xâm phạm và Tòa án ra phán quyết phải bồi thường thiệt hại cho Công ty A, bản án trên hoàn toàn có căn cứ để kháng cáo, kháng nghị khi Tòa án đã giải quyết vụ án vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu của Công ty A.

Xác định sai thời hiệu khởi kiện: một ví dụ khác điển hình về tính huống xác định quan hệ tranh chấp phức tạp và có thể gây nhầm lẫn là giữa quan hệ “Đòi lại tài sản” và “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Ví dụ cụ thể như sau: Công ty A vay tiền của Công ty B (không phải tổ chức tín dụng) và thế chấp tài sản là ô tô của Công ty. Sau khi các bên hoàn thành hợp đồng, Công ty A trả hết nợ cho Công ty B, Công ty B không trả lại tài sản nhận thế chấp là ô tô của Công ty A. Sau hơn 3 năm, do không thể đòi lại tài sản, Công ty A khởi kiện Tòa án X yêu cầu “đòi lại tài sản thuộc quyền sở hữu” là ô tô hiện đang do Công ty B chiếm giữ. Tòa án X tiếp nhận đơn khởi kiện và không đồng tình với quan điểm về quan hệ tranh chấp của Công ty A, qua đó ra Quyết định thụ lý vụ án “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Khi đó, vụ án sẽ đứng trước nguy cơ bị đình chỉ giải quyết nếu Công ty B yêu cầu tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với “tranh chấp hợp đồng”. Trong khi ý chí của Công ty A khi khởi kiện là “đòi lại tài sản thuộc quyền sở hữu” và theo quy định pháp luật yêu cầu này không áp dụng thời hiệu.

Có thể thấy, trên thực tế việc phân biệt quan hệ tranh chấp trong các trường hợp tương tự là rất phức tạp nhưng lại quyết định đến thời hiệu khởi kiện và kết quả của vụ án. Nếu người khởi kiện không có quyền tự quyết đúng theo nguyên tắc tại Khoản 1 Điều 5 BLDS 2015 sẽ dẫn đến việc quyền và lợi ích hợp pháp không được đảm bảo, các bên liên quan sẽ có cơ hội lợi dụng kẽ hở này để né tránh trách nhiệm.

Kiến Nghị Hoàn Thiện Pháp Luật

Từ những phân tích nêu trên, để giải quyết mâu thuẫn giữa hai quy định hiện tại của Bộ luật Tố tụng Dân sự, đồng thời bảo đảm quyền tự định đoạt của đương sự, cần thiết phải hoàn thiện pháp luật theo hướng rõ ràng và minh bạch hơn. Thiết nghĩ,dưới góc độ lập pháp, cần minh định trong BLTTDS quyền tự xác định quan hệ pháp luật tranh chấp khi khởi kiện của đương sự và Tòa án chỉ được xem xét, thụ lý và giải quyết trong phạm vi khởi kiện đó. Trường hợp đương sự xác định quan hệ pháp luật tranh chấp chưa chính xác hoặc chưa rõ ràng, hoặc là Tòa án phải ra văn bản yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện;  hoặc là vẫn thụ lý và giải quyết yêu cầu khởi kiện và tuyên bác nếu không có căn cứ, thay vì “tự quyết” thay đổi nội dung và bản chất vụ án.

Bên cạnh đó, bất kỳ sự điều chỉnh nào của Tòa án liên quan đến việc xác định quan hệ tranh chấp cũng cần có sự đồng thuận của đương sự. Tòa án nên thực hiện đối thoại, giải thích và ghi nhận ý kiến của đương sự trước khi đưa ra quyết định. Đây không chỉ là sự tôn trọng quyền tố tụng, mà còn bảo đảm tính khách quan và giá trị pháp lý của bản án sau này.

Để bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật, Tòa án Nhân dân Tối cao cũng nên ban hành Nghị quyết hướng dẫn chi tiết về trình tự, thủ tục xác định quan hệ tranh chấp, trách nhiệm của Thẩm phán và quyền của đương sự trong giai đoạn thụ lý vụ án. Hướng dẫn này sẽ giúp tránh được sự tùy nghi trong nhận định của từng Thẩm phán, đồng thời bảo đảm tính ổn của hệ thống tố tụng dân sự.

Cuối cùng, cần nhấn mạnh rằng quyền tự định đoạt của đương sự không chỉ là một nguyên tắc mang tính lý thuyết, mà là nền tảng vận hành của toàn bộ cơ chế giải quyết tranh chấp dân sự. Bất kỳ sự hạn chế hoặc thay đổi tùy nghi nào từ phía Tòa án đều có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng đối với quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện. Việc hoàn thiện pháp luật theo hướng đề xuất không chỉ mang tính kỹ thuật lập pháp, mà còn là bước quan trọng nhằm bảo đảm sự công bằng, minh bạch và hiệu quả của nền tư pháp dân sự trong bối cảnh hiện nay.

___________________________

Lưu ý miễn trừ: Bài viết này chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin và bình luận pháp lý chung, không phải là ý kiến tư vấn pháp lý toàn diện cho bất kỳ trường hợp cụ thể nào. Quý độc giả nên tham khảo ý kiến của luật sư hoặc chuyên gia pháp lý có kinh nghiệm trong trường hợp phát sinh tranh chấp hoặc cần hướng dẫn chi tiết đối với vụ việc của mình. Hoặc có thể liên hệ đến đội ngũ luật sư chuyên nghiệp của hãng luật BROSS & Partners để được trợ giúp kịp thời.

Lê Minh Quang
Luật sư Cộng sự

BROSS & PARTNERS 
Advocates & Solicitors | Patent, Trademark & Copyright

M: (+ 84) 98.995.1194 – Tel: (+824-4) 3555 3466 – E: quang.lm@bross.vn – W: www.bross.vn

21th Floor, Charm Vit Tower, No. 117 Tran Duy Hung Str., Yen Hoa, Hanoi, Vietnam 


[1] Điều 5. BLTTDS 2015 Quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự

1. Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó.

[2] Điều 203. BLTTDS 2015: Thời hạn chuẩn bị xét xử

2. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

c) Xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự và pháp luật cần áp dụng;

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *