Việt Nam nới lỏng tiêu chuẩn chứng minh “dụng ý xấu” trong đăng ký nhãn hiệu: điểm mới từ Thông tư 10/2026/TT-BKHCN

05/05/2026

Vì sao chứng minh “dụng ý xấu” ở Thông tư 23 lại quá khó?

“Dụng ý xấu” theo Điều 34.2 Thông tư 23 được xem là tồn tại khi và chỉ khi thoả mãn cả 2 điều kiện:

  1. Thứ nhất, tại thời điểm nộp đơn, người nộp đơn biết hoặc có cơ sở để biết nhãn hiệu mình đăng ký trùng hoặc tương tự đến mức khó phân biệt với nhãn hiệu đang được sử dụng rộng rãi tại Việt Nam hoặc nhãn hiệu nổi tiếng tại nước khác cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự; 
  2. Thứ hai, việc nộp đơn nhằm mục đích lợi dụng danh tiếng, bán lại, cấp phép, chuyển giao, chặn gia nhập thị trường hoặc hành vi trái tập quán thương mại lành mạnh.

Đối với điều kiện 1, điểm khó nhất không phải là chứng minh hai nhãn hiệu giống nhau. Điểm khó là chứng minh người nộp đơn biết hoặc có cơ sở để biết tại thời điểm nộp đơn vì nếu chủ đơn là người không có quan hệ đại lý, phân phối, đàm phán, nhượng quyền, báo giá thì việc cung cấp và đánh giá chứng cứ về nhận thức chủ quan của người nộp đơn là rất khó khăn. Chưa kể cái khó thứ hai lại xuất hiện ở chính điều kiện 1 là bên yêu cầu lại tiếp tục phải chứng minh bằng suy luận gián tiếp thông qua bằng chứng sử dụng rộng rãi tại Việt Nam hoặc nổi tiếng ở nước khác – một đòi hỏi về ngưỡng chứng cứ rất cao

Ngay cả khi vượt qua được điều kiện 1 thì người yêu cầu tiếp tục vẫn phải chứng minh thêm điều kiện 2 là việc đăng ký nhằm một trong các mục tiêu không lành mạnh, ví dụ gồm lợi dụng danh tiếng, uy tín của nhãn hiệu đó để thu lợi; chủ yếu nhằm bán lại, cấp phép hoặc chuyển giao quyền đăng ký cho chủ nhãn hiệu thật; nhằm ngăn chặn khả năng gia nhập thị trường để hạn chế cạnh tranh; hoặc hành vi trái với tập quán thương mại lành mạnh khác. Việc chứng minh điều kiện 2 rõ ràng cũng rất khó vì bản chất chứng minh là xác định trạng thái nhận thức của người nộp đơn tại thời điểm nộp đơn. Trong thực tế, có rất ít vụ có chứng cứ trực tiếp như thư đòi bán lại, email tống tiền, đề nghị cấp phép ngược, hoặc hành vi công khai chặn chủ nhãn hiệu thật.

Thông tư 10 bổ sung căn cứ mới chống “Dụng ý xấu” và nới lỏng tiêu chuẩn chứng minh?

Điều 112.3 Thông tư 10 tách ‘dụng ý xấu’ thành 2 bộ căn cứ pháp lý độc lập. Điểm a bổ sung một căn cứ mới về đầu cơ nhãn hiệu hàng loạt. Điểm b kế thừa logic cộng dồn của Điều 34.2 Thông tư 23 nhưng nới lỏng nghĩa vụ chứng minh liên quan đến nhãn hiệu có trước.

Điểm mới và khác biệt đầu tiên so với Thông tư 23 là Điều 112.3(a) Thông tư 10 lần đầu quy định một căn cứ pháp lý mới và độc lập để xác định “dụng ý xấu”. Đó là trường hợp người nộp đơn đăng ký số lượng lớn nhãn hiệu mà trùng hoặc tương tự đến mức khó phân biệt với nhãn hiệu đang được người khác sử dụng tại Việt Nam gằn liền với hàng hóa/dịch vụ trùng hoặc tương tự trong khi việc đăng ký này vượt quá năng lực kinh doanh thông thường và cũng không có bằng chứng ý định sử dụng thực sự bởi người nộp đơn. Như vậy, căn cứ pháp lý này thực chất đã chuyển trọng tâm từ “anh nghĩ gì khi nộp đơn?” sang “hành vi nộp đơn của anh có giống một hoạt động kinh doanh thật không?”.

Điểm khác biệt thứ hai nằm ở điều kiện kép xác định “dụng ý xấu” theo Điều 34.2 Thông tư 23 đã được cấu trúc lại ở Điều 112.3(b) Thông tư 10 bằng cách tích hợp thành điều kiện cộng dồn. Nói cách khác, Thông tư 10 không bỏ hoàn toàn logic của Điều 34.2 Thông tư 23, nó chỉ thay đổi cách quy định điều kiện kép thành điều kiện cộng dồn. Cụ thể hơn, tại thời điểm nộp đơn, nhãn hiệu bị chiếm đoạt phải trùng hoặc tương tự đến mức khó phân biệt với một nhãn hiệu có trước nếu nhãn hiệu có trước này thuộc một trong hai dạng (a) được người tiêu dùng liên quan tại Việt Nam thừa nhận là dấu hiệu chỉ nguồn gốc thương mại, hoặc (b) nhãn hiệu nổi tiếng ở nước khác việc nộp đơn phải nhằm một mục đích không lành mạnh như lợi dụng danh tiếng, bán lại, cấp phép, chuyển giao, chặn gia nhập thị trường hoặc trái với tập quán thương mại lành mạnh.

Như vậy, điểm thay đổi đáng chú ý nhất hoàn toàn diễn ra ở điều kiện 1, tức điều kiện áp dụng đối với nhãn hiệu có trước. Tức là thay vì yêu cầu chứng minh rằng người nộp đơn biết hoặc có cơ sở để biết về một nhãn hiệu đang được sử dụng rộng rãi tại Việt Nam, hoặc nhãn hiệu nổi tiếng ở nước khác theo Thông tư 23 thì Điều 112.3(b) Thông tư 10 đã nới lỏng ngưỡng chứng minh từ chỗ “sử dụng rộng rãi tại Việt Nam” bằng tiêu chuẩn thấp hơn và dễ chứng minh hơn là “được người tiêu dùng liên quan tại Việt Nam thừa nhận là dấu hiệu chỉ nguồn gốc thương mại”.

Kết luận

Thông tư 10 không giúp biến mọi đơn đăng ký nhãn hiệu trùng hoặc tương tự thành có “dụng ý xấu” nhưng nó có tác động tích cực ở chỗ sẽ giúp việc chứng minh “dụng ý xấu” trở nên khả thi hơn.

Thông tư 23 đặt câu hỏi chính là: người nộp đơn có biết và có mục đích xấu không? Còn theo Thông tư 10, câu hỏi rộng hơn: người nộp đơn có đang kinh doanh thật, hay đang đầu cơ nhãn hiệu? Nhãn hiệu có trước đã được người tiêu dùng liên quan tại Việt Nam nhận diện như dấu hiệu chỉ nguồn gốc thương mại? Và hồ sơ chứng cứ có đủ để chứng minh điều đó không?

Trong tranh chấp nhãn hiệu, việc chỉ gọi đối phương là “dụng ý xấu” mà không chứng minh được bằng chứng cứ sẽ không giúp bạn chiến thắng. Hơn nữa, chiến lược đúng đắn để phản đối hoặc huỷ bỏ thành công nhãn hiệu là không nên chỉ dựa vào “dụng ý xấu” mà tuỳ trường hợp bạn vẫn còn nhiều sự lựa chọn pháp lý khác như điều kiện bảo hộ nhãn hiệu theo Điều 72-74 Luật SHTT, nguyên tắc nộp đơn đầu tiên theo Điều 90.2 hoặc quyền đăng ký theo Điều 87.

Bross & Partners – a Vietnam-based intellectual property law firm ranked Tier 1 by Legal 500 Asia Pacific, with extensive experience in IP litigation and cross-border enforcement.
For further information, please contact:
🔗 LinkedIn https://www.linkedin.com/in/lequangvinh  | ✉️ vinh@bross.vn | 📞 +84 903 287 057
Zalo: +84 903 287 057 | Microsoft Teams: vinh@bross.vn
🌐 http://www.bross.vn

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *