Lợi ích của việc khởi kiện vụ án dân sự trong các vụ án cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới quyền Sở hữu Trí tuệ

04/02/2015

Trong những năm gần đây, Việt Nam đã và đang chứng tỏ sự quyết tâm trong việc thiết lập và thực thi có hiệu quả các khuôn khổ pháp lý nhằm bảo vệ quyền SHTT nói chung và chống cạnh tranh nói riêng.

Phần lớn chế định cạnh tranh trên thế giới đều xác lập quy tắc chung có mục đích để ngăn chặn bất kỳ hành vi nào mà trái với kinh doanh trung thực. Điều 1(2) Công ước Paris về Bảo hộ quyền Sở hữu Công nghiệp (SHCN) quy định rằng ”đối tượng bảo hộ sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, giải pháp hữu ích (mẫu hữu ích), kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ, tên thương mại, chỉ dẫn nguồn gốc hoặc tên gọi xuất xứ, và chống cạnh tranh không lành mạnh”.

Theo Điều 10 Công ước Paris, các quốc gia thành viên có nghĩa vụ phải thiết lập các biện pháp có hiệu quả chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh, trong đó bao gồm các hành vi đi ngược với tập quán trung thực trong hoạt động thương mại và công nghiệp, chẳng hạn như các hành vi gây nhầm lẫn, lừa dối về nguồn gốc thương mại, những chỉ dẫn hoặc khẳng định mà việc sử dụng chúng trong hoạt động thương mại có thể gây nhầm lẫn cho công chúng về bản chất, quá trình sản xuất, tính chất, tính thích hợp để sử dụng hoặc số lượng của hàng hoá.

Hiệp định về các khía cạnh có liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (“Hiệp định TRIPs”) không đưa thêm định nghĩa hoặc các quy tắc mới ngoại trừ việc tái khẳng định tại Điều 2 rằng ”trong Phần II, III và IV của Hiệp định, các thành viên phải tuân thủ Điều 1 đến 12, Điều 19 của Công ước Paris”.

Cạnh tranh không lành mạnh theo quy định cũ

Cụm từ “cạnh tranh không lành mạnh” xuất hiện lần đầu tiên tại Điều 5.1 (b) Nghị định về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực SHCN (Nghị định 12/1999/ND-CP), trong đó quy định rằng ”việc tiến hành thủ tục xác lập quyền, thực hiện quyền sở hữu công nghiệp nhằm mục đích cạnh tranh không lành mạnh, độc quyền, khống chế thị trường một cách bất hợp pháp, thủ tiêu đối tượng sở hữu công nghiệp, hạn chế hoặc thu hẹp phạm vi bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp của người khác, lợi dụng hoặc hạ thấp uy tín thương mại của cơ sở kinh doanh khác” có thể bị cảnh cáo hoặc bị phạt tiền từ 200.000VND-1.000.000VND.

Tuy nhiên, phải mãi tới ngày 3/10/2000 các quy định cụ thể về cạnh tranh không lành mạnh mới được chinh thức ban hành trong Nghị định về bảo hộ quyền SHCN, bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và bảo hộ các quyền chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực SHCN (Nghị định 54/2000/ND-CP). Theo Điều 24, có 2 dạng hành vi thuộc đối tượng áp dụng của Nghị định này về cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến SHCN. Thứ nhất, sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn và sai lệch về chủ thể kinh doanh, cơ sở kinh doanh, hoạt động kinh doanh, hàng hóa và dịch vụ kinh doanh, và thứ hai, chiếm đoạt và sử dụng thành quả đầu tư của người khác mà không được phép của người đó. 

Theo Nghị định 54, tổ chức hoặc cá nhân bị thiệt hại do hành vi cạnh tranh không lành mạnh phải cung cấp bằng chứng chứng minh thiệt hại, ví dụ, bên vi phạm đã lợi dụng hoặc làm mất uy tín và danh tiếng của nhà sản xuất, hoặc gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc của hàng hóa, phương thức sản xuất, tính chất hàng hóa… 

Một trong những vụ việc nổi tiếng được dư luận biết đến là vụ kiện giữa hãng dược Hungary tên là Richter Gedeon Nyrt và 2 doanh nghiệp sản xuất dược phẩm Việt Nam gồm Công ty TNHH dược phẩm Trung Nam and Công ty dược và vật tư y tế Bình Dương. Trong đơn khởi kiện nộp tháng 9/2004 tại Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh (được bổ sung sửa đổi tháng 4/2005), nguyên đơn, Richter Gedeon Nyrt, chủ nhãn hiệu “POSTINOR” được bảo hộ tại Việt Nam và các nước khác cho các sản phẩm dược thuộc nhóm 05 theo đăng ký quốc tế số 441291 ngày 19/10/1978 cho rằng các bị đơn nêu trên đã sử dụng kiểu dáng, nhãn và bao gói trên sản phẩm thuốc tránh thai mang nhãn hiệu Posinight tương tự gây nhầm lẫn với sản phẩm thuốc tránh thai mang nhãn hiệu POSINOR đã được bảo hộ và hành vi này là đã cấu thành hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Nguyên đơn đề nghị Tòa án buộc các bị đơn phải bồi thường thiệt hại với số tiền 85,348.60USD và 9,496.59USD phí luật sư cũng như phải thu hồi từ thị trường và tiêu hủy toàn bộ bao gói vi phạm và đăng thư xin lỗi công khai trên báo.

Theo phán quyết phiên sơ thẩm số 275/2006/DSST ngày 29/03/2006, TAND thành phố Hồ Chí Minh đã chấp thuận một phần đề nghị của nguyên đơn về yêu cầu bồi thường thiệt hại và buộc bị đơn phải thực hiện bồi thường bằng tiền đồng Việt Nam tương đương với số tiền 46,969,68 đô la Mỹ, buộc dừng sử dụng các bao gói vi phạm, thu hồi từ thị thị trường và tiêu hủy toàn bộ các bao gói đã lưu hành.

Sau khi bản án sơ thẩm bị kháng cáo bởi các bị đơn, Tòa phúc thẩm TAND Tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh ra phán quyết phúc thẩm dân sự số 316/2006/DSPT ngày 4/1/2006 sửa đổi bản án sơ thẩm và bác bỏ yêu cầu bồi thường thiệt hại của nguyên đơn. Tuy nhiên ngày 29/9/2009, Hội đồng Thẩm phán Tòa án Tối cao đã bãi bỏ cả hai bản án trước đó với lý do do pháp luật điều chỉnh tranh chấp cũng như việc áp dụng pháp luật bởi cả hai cấp xét xử đều không đúng.

Tòa án Tối cao lưu ý rằng trong văn bản đề ngày 8/1/2005 trả lời yêu cầu giám định của Tòa án, Cục SHTT, cơ quan mà trước đó đã cấp bảo hộ cho cả hai nhãn hiệu POSTINOR và POSINIGHT, khẳng định rằng nhãn hiệu POSINIGHT không tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu POSTINOR. Tuy vậy, Cục SHTT nhận định rằng hình thức thể hiện, thiết kế và màu sắc bao bì sản phẩm trên bao bì sản phẩm POSINIGHT bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Về luật áp dụng, Quyết định giám đốc thẩm của Tòa án Tối cao nhận định rằng ngay cả khi không có hình thức xử lý vi phạm hành chính nào đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh được áp dụng tại thời điểm đó, thì cũng không thể cho rằng rằng yêu cầu bồi thường thiệt hại của nguyên đơn là không có cơ sở.

Chế định mới về cạnh tranh không lành mạnh

Mãi đến năm 2004 Việt Nam mới thông qua Luật cạnh tranh và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/07/2005. Luật cạnh tranh đưa vào khái niệm cạnh tranh không lành mạnh một cách toàn diện, cụ thể ”hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng.” Trong số 9 hành vi được liệt kê theo Điều 39 về cạnh tranh không lành mạnh, chỉ duy nhất hành vi sử dụng chỉ dẫn gây lừa dối là thuần túy liên quan đến đến sở hữu công nghiệp.

Luật SHTT được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực từ ngày 1/7/2006. Luật cũng có quy định chi tiết về hành vi cạnh tranh không lành mạnh, mặc dù ở mức độ hẹp hơn nhiều so với quy định của Luật cạnh tranh, cụ thể nó giới hạn cách xử lý chỉ đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ. Cụ thể, Điều 130 quy định 4 dạng hành vi sau đây được coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan tớiquyền sở hữu trí tuệ:

a) Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, hoạt động kinh doanh, nguồn gốc thương mại của hàng hoá, dịch vụ;

b) Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về xuất xứ, cách sản xuất, tính năng, chất lượng, số lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hoá, dịch vụ; về điều kiện cung cấp hàng hoá, dịch vụ;

c) Sử dụng nhãn hiệu được bảo hộ tại một nước là thành viên của điều ước quốc tế có quy định cấm người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu sử dụng nhãn hiệu đó mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng là thành viên, nếu người sử dụng là người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu và việc sử dụng đó không được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu và không có lý do chính đáng;

d) Đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại được bảo hộ của người khác hoặc chỉ dẫn địa lý mà mình không có quyền sử dụng nhằm mục đích chiếm giữ tên miền, lợi dụng hoặc làm thiệt hại đến uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý tương ứng.

So sánh với chế định cũ trước đây, chế định chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ được nêu tại Luật Cạnh tranh và Luật SHTT được xem là một bước tiến bộ đáng kể vì chúng đã xác lập một khuôn khổ pháp lý toàn diện nhằm giải quyết các tranh chấp có liên quan tới các hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Đặc biệt, chế định mới đặc trưng bởi các đặc điểm sau:

  • Hành vi cạnh tranh không lành mạnh được liệt kê và định nghĩa rõ ràng- ví dụ, việc sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn cho các chủ thể kinh doanh về nguồn gốc của hàng hóa/dịch vụ. Theo đó, “chỉ dẫn thương mại” được hiểu là các dấu hiệu và thông tin nhằm hướng dẫn thương mại hàng hoá, dịch vụ, bao gồm nhãn hiệu, tên thương mại, biểu tượng kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng bao bì của hàng hoá, nhãn hàng hoá”
  • Khác hẳn Công ước Paris, Hiệp định TRIPs hoặc Luật quốc gia của nhiều nước trên thế giới, Luật SHTT quy định rằng “đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại được bảo hộ của người khác hoặc chỉ dẫn địa lý mà mình không có quyền sử dụng nhằm mục đích chiếm giữ tên miền, lợi dụng hoặc làm thiệt hại đến uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý tương ứng” bị xem LÀ hành vi cạnh tranh không lành mạnh”- đây có thể được coi là một sự điểm tiến bộ ngoài mong đợi.

Tên miền và chủ thể chiếm hữu tên miền bất hợp pháp

Vụ việc tranh chấp tên miền giữa Samsung Electronics Co, Ltd (Korea) và Ông Dương Hồng Minh năm 2010 liên quan đến quyền chiếm hữu và sử dụng tên miền “samsungmobile.com” và “samsungmobile.vn” do TAND thành phố Hà Nội xét xử có thể được xem như là một mốc lịch sử liên quan đến dạng tranh chấp này. Bản án sơ thẩm ngày 2/6/2010 tuyên rằng tên miền “samsungmobile.com.vn” phải bị thu hồi và quyền ưu tiên đăng ký tên miền này được cấp cho Samsung nhưng yêu cầu của nguyên đơn liên quan tới tên miền “samsungmobile.vn” thì lại bị bác.. Sau khi kháng cáo phán quyết sơ thẩm của Tòa sơ thẩm, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội đã buộc thu hồi tên miền thứ hai “samsungmobile.vn” và đồng ý giành quyền ưu tiên cho Samsungđăng ký tên miền này.

Các phán quyết của tòa án nêu trên đã chứng tỏ rằng hệ thống tư pháp ít nhiều đã tạo được niềm tin cho các nhà đầu tư, tổ chức, cá nhân, chủ sở hữu nhãn hiệu/thương hiệu rin rằng họ có thể ngăn chặn các chủ thể chiếm hữu tên miền bất hợp pháp đăng ký, mua bán hoặc sử dụng tên miền với ý đồ xấu nhằm mục đích thu lợi từ uy tín của các nhãn hiệu/thương hiệu có uy tín.

Kết luận

Người ta tin rằng thông qua các quyết định của thẩm phán số lượng các vụ việc được sử dụng v biện pháp dân sự trong hệ thống tư pháp của Việt Nam sẽ dần được cân bằng hơn so với các biện pháp hành chính vốn vẫn đang được lựa chọn bởi các chủ thể quyền.

© 2014 Bross & Partners

Bản gốc tiếng Anh được đăng trên World Trademark Review số Tháng 4 và 5/2014 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *