GIỚI HẠN ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC “BẢO VỆ NGƯỜI THỨ BA NGAY TÌNH” TRONG TRANH CHẤP TÀI SẢN BẢO ĐẢM LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

09/02/2026

Đặt vấn đề

Trong thực tiễn giải quyết các tranh chấp liên quan đến tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, ngày càng xuất hiện nhiều tình huống mà quyền sử dụng đất được chuyển dịch thông qua một giao dịch dân sự có dấu hiệu vô hiệu, nhưng vẫn được ghi nhận bằng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN QSDĐ). Trên cơ sở GCN QSDĐ đã được cấp, quyền sử dụng đất tiếp tục được đem thế chấp tại ngân hàng, trong khi chủ thể đang trực tiếp chiếm hữu, quản lý và sử dụng đất không biết và không có ý chí chuyển nhượng hoặc thế chấp.

Đáng chú ý, trong không ít trường hợp, việc tiếp nhận tài sản bảo đảm của ngân hàng chủ yếu dựa trên hồ sơ pháp lý, đặc biệt là GCN QSDĐ và thủ tục đăng ký giao dịch bảo đảm, mà không đi kèm việc xác minh tình trạng sử dụng đất trên thực tế. Khi ngân hàng xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ, tranh chấp phát sinh trực tiếp với người đang sinh sống, quản lý và sử dụng đất, nhưng các chủ thể này thường chỉ được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

Thực tiễn xét xử cho thấy vẫn tồn tại cách tiếp cận theo hướng ưu tiên bảo vệ giao dịch tín dụng, xác định ngân hàng là người thứ ba ngay tình chủ yếu dựa trên việc có GCN QSDĐ và đã đăng ký thế chấp, từ đó hạn chế việc xem xét hiệu lực của giao dịch thế chấp trong bối cảnh giao dịch chuyển nhượng làm phát sinh GCN QSDĐ có dấu hiệu vi phạm pháp luật nghiêm trọng.

Bài viết này phân tích dưới góc độ pháp lý và thực tiễn nhằm làm rõ rằng việc áp dụng nguyên tắc bảo vệ người thứ ba ngay tình theo Điều 133[1] Bộ luật Dân sự 2015 đối với ngân hàng cần được đặt trong những giới hạn nhất định, trên cơ sở phân biệt giữa tính hợp pháp về hình thức và tính hợp pháp thực chất của quyền định đoạt, đồng thời gắn tiêu chí “ngay tình” với nghĩa vụ cẩn trọng tương ứng với tính chất chuyên nghiệp của chủ thể nhận thế chấp.

Phân biệt Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền định đoạt hợp pháp

Theo Điều 117[2] BLDS 2015, giao dịch dân sự chỉ có hiệu lực khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện về chủ thể, ý chí và nội dung. Đối với bất động sản, quyền định đoạt chỉ được xác lập hợp pháp khi bắt nguồn từ một giao dịch gốc có hiệu lực pháp luật.

Trong trường hợp quyền sử dụng đất là tài sản chung của hộ gia đình hoặc thuộc đồng sở hữu, nếu giao dịch chuyển nhượng ban đầu vi phạm điều kiện về chủ thể (thiếu sự tham gia hoặc sự đồng thuận thực sự của đồng sở hữu bắt buộc) hoặc vi phạm điều kiện về ý chí (bị lừa dối, giả mạo chữ ký), thì giao dịch đó có thể bị xác định là vô hiệu theo các căn cứ tại Điều 123, Điều 124, Điều 127 BLDS 2015, và được xử lý hậu quả theo Điều 131[3] BLDS 2015.

Trong những trường hợp này, GCN QSDĐ được cấp trên cơ sở giao dịch vô hiệu không đương nhiên làm phát sinh quyền định đoạt hợp pháp cho người đứng tên. Do đó, việc ngân hàng chỉ căn cứ vào GCN QSDĐ để xác lập giao dịch thế chấp cần được xem xét thận trọng khi đánh giá điều kiện áp dụng nguyên tắc bảo vệ người thứ ba ngay tình.

Tiêu chí “không biết” và “không thể biết” trong xác lập sự ngay tình

Điều 133 BLDS 2015 bảo vệ người thứ ba ngay tình trong trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu, nhưng không đưa ra tiêu chí định lượng cụ thể cho điều kiện “không thể biết”. Việc đánh giá điều kiện này vì vậy phụ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể của từng vụ việc và đặc điểm của chủ thể tham gia giao dịch.

Đối với ngân hàng, trong tư cách là tổ chức tín dụng chuyên nghiệp, thì tiêu chí “không thể biết” không thể được đánh giá theo chuẩn mực của một chủ thể dân sự thông thường. Bởi lẽ, ngân hàng hoạt động dựa trên cơ chế quản trị rủi ro, có quy trình thẩm định tài sản bảo đảm, có khả năng tiếp cận thông tin và thu phí thẩm định từ khách hàng. Trong bối cảnh đó, sự “không biết” chỉ có thể được coi là ngay tình khi ngân hàng đã thực hiện đầy đủ các biện pháp thẩm định hợp lý theo chuẩn mực nghề nghiệp.

Khi tồn tại những dấu hiệu bất thường liên quan đến nguồn gốc pháp lý của quyền sử dụng đất, tình trạng sử dụng thực tế hoặc chủ thể đang chiếm hữu tài sản mà có thể được phát hiện thông qua việc thẩm định thông thường, thì việc ngân hàng không nhận biết được các khiếm khuyết này khó có thể đáp ứng điều kiện “không thể biết” hoặc “ngay tình” theo tinh thần của Điều 133 BLDS 2015.

Cần giới hạn áp dụng Điều 133 BLDS 2015 đối với ngân hàng và các tổ chức tín dụng chuyên nghiệp

Trong thực tiễn giải quyết tranh chấp, việc hoàn tất thủ tục đăng ký giao dịch bảo đảm thường được các ngân hàng, tổ chức tín dụng viện dẫn như một căn cứ quan trọng để yêu cầu áp dụng cơ chế bảo vệ theo Điều 133 Bộ luật Dân sự 2015. Tuy nhiên, về mặt pháp lý, đăng ký giao dịch bảo đảm chỉ là điều kiện cần để giao dịch thế chấp phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba, chứ không phải là căn cứ duy nhất, cũng không phải là điều kiện đủ để mặc nhiên áp dụng nguyên tắc bảo vệ người thứ ba ngay tình.

Theo cấu trúc của Điều 133 BLDS 2015, nguyên tắc bảo vệ người thứ ba ngay tình chỉ có thể được xem xét khi đồng thời thỏa mãn hai nhóm điều kiện: (i) giao dịch mà người thứ ba tham gia được xác lập trên cơ sở một chủ thể có hình thức hợp pháp về quyền định đoạt, và (ii) người thứ ba không biết và không thể biết về khiếm khuyết pháp lý của giao dịch gốc tại thời điểm xác lập giao dịch.

Đối với ngân hàng, việc đánh giá điều kiện “không thể biết” không thể tách rời khỏi nghĩa vụ thẩm định tài sản bảo đảm trong thực tế. Chuẩn mực “không thể biết” trong trường hợp này cần được xem xét trên cơ sở mức độ cẩn trọng mà pháp luật có thể kỳ vọng ở một chủ thể có chuyên môn, có hệ thống quy trình thẩm định và khả năng tiếp cận thông tin tốt hơn so với các chủ thể dân sự thông thường. Khi các dấu hiệu bất thường về nguồn gốc pháp lý của quyền sử dụng đất, về tình trạng sử dụng thực tế hoặc về chủ thể đang chiếm hữu tài sản có thể được phát hiện thông qua việc thẩm định hợp lý, thì việc ngân hàng không nhận biết được những khiếm khuyết đó khó có thể được coi là đáp ứng điều kiện “không thể biết” theo tinh thần của Điều 133 BLDS 2015.

Đặc biệt, trong trường hợp GCN QSDĐ được cấp trên cơ sở một giao dịch vô hiệu do vi phạm nghiêm trọng điều kiện về chủ thể hoặc ý chí, chẳng hạn như thiếu sự tham gia thực sự của đồng sở hữu bắt buộc, bị giả mạo chữ ký hoặc bị lừa dối, thì nền tảng pháp lý của quyền định đoạt cần được xem xét lại một cách thận trọng. Khi quyền định đoạt của người đứng tên trên GCN QSDĐ chưa được xác lập hợp pháp ngay từ đầu, giao dịch thế chấp phát sinh từ quyền đó không thể đương nhiên được đặt dưới sự bảo vệ của nguyên tắc người thứ ba ngay tình khi chỉ dựa trên yếu tố hình thức là đã hoàn tất thủ tục đăng ký giao dịch bảo đảm.

Một số định hướng lập luận bảo vệ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong thực tiễn giải quyết tranh chấp

Trong các tranh chấp có cấu trúc pháp lý tương tự, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan cần được tiếp cận theo hướng phân tích tuần tự, logic từ giao dịch gốc đến các giao dịch phát sinh, thay vì chỉ tập trung vào hình thức pháp lý của hợp đồng thế chấp. Cách tiếp cận này xuất phát từ nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự rằng hiệu lực của các giao dịch phát sinh phụ thuộc trực tiếp vào nền tảng pháp lý của quyền được giao dịch, đặc biệt khi đối tượng của giao dịch là quyền sử dụng đất.

Theo đó, trọng tâm phân tích đầu tiên cần được đặt vào việc xác định hiệu lực pháp lý của giao dịch chuyển nhượng ban đầu, giao dịch làm phát sinh quyền sử dụng đất của bên thế chấp. Việc làm rõ giao dịch này có đáp ứng đầy đủ các điều kiện về chủ thể, ý chí và nội dung theo quy định của Bộ luật Dân sự hay không là cơ sở then chốt để đánh giá tính hợp pháp của quyền định đoạt. Trong trường hợp giao dịch gốc bị xác định là vô hiệu, cần xem xét hệ quả pháp lý kéo theo đối với các giao dịch tiếp theo, bao gồm cả hợp đồng thế chấp tại ngân hàng.

Trên cơ sở đánh giá giao dịch gốc, bước phân tích tiếp theo là xem xét mức độ thực hiện nghĩa vụ thẩm định tài sản bảo đảm của ngân hàng. Việc này không chỉ dừng lại ở việc kiểm tra sự đầy đủ của hồ sơ pháp lý, mà cần được đặt trong mối liên hệ với các tài liệu phản ánh quy trình thẩm định thực tế, như hồ sơ tín dụng, báo cáo định giá, biên bản khảo sát hiện trạng và các tài liệu nội bộ liên quan. Thông qua đó, có thể đánh giá liệu ngân hàng đã thực hiện đầy đủ các biện pháp thẩm định hợp lý theo chuẩn mực nghề nghiệp hay chưa, cũng như xác định khả năng nhận biết các dấu hiệu bất thường liên quan đến nguồn gốc pháp lý, tình trạng sử dụng và chủ thể đang chiếm hữu tài sản tại thời điểm nhận thế chấp.

Cuối cùng, việc giải quyết tranh chấp cần được đặt trong bối cảnh phân bổ rủi ro giữa các chủ thể tham gia giao dịch. Trong bối cảnh ngân hàng là tổ chức tín dụng chuyên nghiệp, có năng lực, công cụ và khả năng tiếp cận thông tin vượt trội, pháp luật có cơ sở để đặt ra yêu cầu cẩn trọng cao hơn so với các chủ thể dân sự thông thường. Do đó, việc xem xét áp dụng hay không áp dụng cơ chế bảo vệ người thứ ba ngay tình cần gắn liền với việc đánh giá vai trò, mức độ hưởng lợi và năng lực kiểm soát rủi ro của từng bên, nhằm bảo đảm sự cân bằng hợp lý giữa yêu cầu ổn định giao dịch và yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp trong trật tự pháp lý dân sự.

Kết luận

BLDS 2015 không thiết lập một định nghĩa đầy đủ về người thứ ba ngay tình, mà chỉ đặt ra một khung nguyên tắc bảo vệ tại Điều 133. Việc áp dụng nguyên tắc này đối với ngân hàng trong tranh chấp tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất không thể dựa đơn thuần vào các dấu hiệu hình thức như việc có GCN QSDĐ hoặc đã đăng ký giao dịch bảo đảm.

Trong bối cảnh ngân hàng là tổ chức tín dụng chuyên nghiệp, việc xem xét tư cách người thứ ba ngay tình cần gắn liền với nghĩa vụ thẩm định tài sản bảo đảm trong thực tế. Khi nghĩa vụ này không được thực hiện đầy đủ, việc không áp dụng cơ chế bảo vệ theo Điều 133 BLDS 2015 có thể được xem là hệ quả của sự phân bổ rủi ro phù hợp với mức độ chuyên nghiệp của chủ thể tham gia giao dịch, đồng thời góp phần bảo đảm sự cân bằng giữa yêu cầu ổn định giao dịch và yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp.

Lưu ý miễn trừ: Bài viết này chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin và bình luận pháp lý chung, không phải là ý kiến tư vấn pháp lý toàn diện cho bất kỳ trường hợp cụ thể nào. Quý độc giả nên tham khảo ý kiến của luật sư hoặc chuyên gia pháp lý có kinh nghiệm trong trường hợp phát sinh tranh chấp hoặc cần hướng dẫn chi tiết đối với vụ việc của mình. Hoặc có thể liên hệ đến đội ngũ luật sư chuyên nghiệp của hãng luật BROSS & Partners để được trợ giúp kịp thời.

Lê Minh Quang
Luật sư Cộng sự

BROSS & PARTNERS 
Advocates & Solicitors | Patent, Trademark & Copyright

M: (+ 84) 98.995.1194 – Tel: (+824-4) 3555 3466 – E: quang.lm@bross.vn  


[1] Điều 133. BLDS 2015: Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu

1. Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng đối tượng của giao dịch là tài sản không phải đăng ký đã được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch được xác lập, thực hiện với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp quy định tại Điều 167 của Bộ luật này.

2. Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu.

Trường hợp tài sản phải đăng ký mà chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì giao dịch dân sự với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá tại tổ chức có thẩm quyền hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó chủ thể này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa.

3. Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình, nếu giao dịch dân sự với người này không bị vô hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều này nhưng có quyền khởi kiện, yêu cầu chủ thể có lỗi dẫn đến việc giao dịch được xác lập với người thứ ba phải hoàn trả những chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại.

[2] Điều 117. BLDS 2015: Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập; b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

2. Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.

[3] Điều 131. BLDS 2015: Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.

3. Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.

4. Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.

5. Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *