“Ăn theo” họ tên người nổi tiếng và quyền nhân thân

04/06/2015
(Thời báo Kinh tế Sài Gòn, số 23-2015, ra ngày 04/06/2015 – Luật sư Lương Văn Trung  – Công ty Luật Bross & Partners – Trọng tài viên VIAC và Luật sư Lê Quang Vy – Công ty VLT Lawyers)

Dự thảo Bộ luật Dân sự (DTBLDS) đang được lấy ý kiến của nhân dân, có những quy định mới tiến bộ hơn so với Bộ luật Dân sự 2005 (BLDS) về các quyền nhân thân.

Tuy nhiên, với những trường hợp đã từng xảy ra trong thực tế đang đòi hỏi nhà làm luật phải đánh giá đầy đủ để có những thay đổi cho phù hợp hơn.

Nhân quyền và quyền nhân thân

Trước hết, cần phân biệt nhân quyền (quyền con người – Human rights) và quyền nhân thân (Moral right).

Nhân quyền bắt đầu được bàn đến từ thế kỷ 16, phát triển mạnh vào thế kỷ 19 ở một số quốc gia và được công nhận do bản tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền năm 1948.

Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam qua các thời kỳ cũng minh thị các quyền của con người như tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, tự do lập hội, biểu tình, tự do đi lại, cư trú, xuất ngoại… Về mặt pháp lý, các quyền con người thuộc lĩnh vực công pháp (pháp luật quy định quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân/tổ chức phi nhà nước) được quy định nhằm mục đích bảo vệ con người trong mối tương tác với các cơ quan quản lý nhà nước. Trái lại quyền nhân thân thuộc về lãnh vực tư pháp (pháp luật quy định quan hệ giữa các cá nhân/tổ chức phi nhà nước) nhằm mục đích bảo vệ sự toàn vẹn của con người về thể chất lẫn tinh thần và giá trị tinh thần trong sự tương tác với các cá nhân khác.

Quyền nhân thân có bị tịch biên không?

Mỗi cá nhân đều có các quyền nhân thân và quyền này không thể tách rời khỏi chính bản thân cá nhân đó. Về phương diện hộ tịch, quyền nhân thân bao gồm các quyền đối với họ, tên, quyền khai sinh, khai tử, quyền đối với quốc tịch, quyền kết hôn, ly hôn, quyền xác định lại giới tính. Về phương diện tinh thần, đó là các quyền tự do tín ngưỡng, quyền tự do nghiên cứu sáng tạo, quyền đối với hình ảnh, quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín, bí mật đời tư. Về phương diện xã hội, đó là các quyền tự do kinh doanh, quyền tự do đi lại, cư trú, quyền lao động…

Vì sự gắn bó thiết thân trong đời sống hàng ngày của mỗi cá nhân như vậy, có thể nói quyền nhân thân gắn với mỗi con người như hình với bóng. Do đó, quyền nhân thân luôn có hai tính chất. Thứ nhất là không thể chuyển nhượng, bao gồm cả mua bán, tặng cho, thừa kế (ngoại trừ trường hợp có sự thừa kế về quyền bảo vệ uy tín, danh dự và sự toàn vẹn tác phẩm của người quá cố hoặc đối với các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, theo đó người thừa kế của người được bảo hiểm có quyền lãnh một số bồi thường khi người được bảo hiểm chết). Thứ hai là không thể tịch biên, nghĩa là, khác với quyền tài sản, quyền nhân thân không bao giờ bị tịch thu hay kê biên. Khoản 1 điều 30 DTBLDS quy định: “Quyền nhân thân được quy định trong bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp luật có quy định khác”. Thiết nghĩ, nhà làm luật cần bổ sung tính không thể tịch biên để thể hiện đầy đủ đặc tính bản chất pháp lý đối với quyền nhân thân.

Họ, tên được bảo vệ đến mức nào?

Chúng ta biết rằng họ, tên (danh tính) là dấu hiệu xác định hay chỉ định một cá nhân. Ở Việt Nam họ, tên thường có ba thành tố theo thứ tự: họ, chữ lót và tên. Họ, tên là yếu tố rất quan trọng về mặt công pháp cũng như tư pháp. Vì chính nhờ có họ, tên mà một cá nhân có quyền bầu cử, ứng cử hoặc phải thi hành nghĩa vụ đối với Nhà nước hay thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự. Khoản 4 điều 31 DTBLDS quy định: “Cá nhân xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự theo họ, tên của mình đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận”. Về phương diện kinh tế, một cá nhân còn có quyền hưởng lợi ích vật chất do chính họ, tên của mình đem lại như các nghệ sĩ, luật sư, bác sĩ nổi tiếng (tương tự như doanh nghiệp được hưởng lợi do thương hiệu uy tín của mình). Đặc tính pháp lý của họ, tên là không thể mua bán, chuyển nhượng giữa người sống, hoặc cho hưởng thừa kế. Họ, tên không thể bị tiêu hủy hay phá bỏ như một tài sản vật chất và không thể có được hay mất đi bởi thời hiệu.

Vì đặc tính và bản chất pháp lý của họ, tên rất quan trọng đối với người mang nó, DTBLDS đã dành riêng hai điều khoản quy định về quyền đối với họ, tên (điều 31) và quyền thay đổi họ, tên (điều 32). Khoản 3 điều 31 có quy định: “Việc đặt tên, sử dụng bí danh, bút danh không được trái với đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc”. Tuy nhiên, phạm vi bảo vệ quyền đối với họ, tên ở mức nào là điều mà DTBLDS vẫn còn đang bỏ ngỏ.

Trong thực tế ở xã hội Việt Nam, đã từng xảy ra vụ việc các nài ngựa đã lấy tên các nghệ sĩ nổi tiếng để đặt tên cho con ngựa của mình. Sự việc này khiến dư luận báo chí lúc bấy giờ lên tiếng bởi những nghệ sĩ có tên tuổi đã cảm thấy bị xúc phạm vì có những con ngựa mang tên của mình. Ngoài ra, thời gian gần đây đã xảy ra nhiều hiện tượng lấy tên hoặc nghệ danh của các nghệ sĩ nổi tiếng để đặt cho mình một cách tương tự, gây nhầm lẫn trong công chúng. Thiết nghĩ, để kiểm soát các hiện tượng này trong phạm vi bảo vệ của luật pháp đối với quyền nhân thân, nhà làm luật nên cân nhắc về các trường hợp hạn chế sử dụng tên, nghệ danh, bút danh của người nổi tiếng vì mục đích thương mại hay vì sự nổi tiếng trong nghề nghiệp tương tự với người nổi tiếng đó (trừ trường hợp đặt tên lần đầu). Nếu việc quy định chi tiết về vấn đề này tại BLDS là không phù hợp, BLDS có thể chỉ cần quy định nguyên tắc chung và hãy để các luật chuyên ngành cần quy định cụ thể, ví dụ luật quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật có thể quy định vấn đề này như là một điều kiện cấp phép biểu diễn.

Dù rằng quyền đối với họ, tên không được bảo vệ theo cách bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ (như nhãn hiệu, tên thương mại, quyền tác giả) do sự khác nhau về bản chất và mục đích của sự bảo vệ, nhưng việc sử dụng họ, tên của người nổi tiếng vì mục đích thương mại hay ngoài mục đích xác định danh tính có thể là một sự giao thoa với quyền sở hữu trí tuệ ở mục đích bảo hộ. Đồng thời, sự lạm dụng tên tuổi của người khác để gây nhầm lẫn cho công chúng vì lợi ích cá nhân nên là một yếu tố cần kiểm soát bởi luật pháp bằng cách ngăn chặn nó trước khi hậu quả thực tế xảy ra và có thể chứng minh được. Vì lý do đó, nhà làm luật nên cân nhắc việc bảo hộ quyền nhân thân đối với tên họ trong mối quan hệ hài hòa giữa quyền của những người mang cùng tên họ hay có tên họ tương tự mà không do người khác đặt vì mục đích xác định và cá thể hóa danh tính.

Gợi ý này cũng hướng tới mục đích bảo vệ các lợi ích chung của xã hội trong các lĩnh vực mà tên tuổi của những cá nhân trong các lĩnh vực hay ngành nghề đặc thù đóng một vai trò quan trọng đối với sự phát triển hay hoạt động của ngành nghề đó.

Để xem nội dung bài viết trên website của Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Quý khách vui lòng bấm vào đây 

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *