BẢN CHẤT TÍN DỤNG CỦA THƯ TÍN DỤNG (L/C)?
Nguyễn Huy Hoàng, Luật sư Thành viên, BROSS & Partners
Cựu Cán bộ Ngân hàng BIDV
Email: hoang@bross.vn
Đoàn Thanh Bình, Luật sư, BROSS & Partners
Email: binh.dt@bross.vn
Thư tín dụng hay Tín dụng chứng từ là thuật ngữ được Việt hoá từ tiếng Anh là Letter of Credit (hay còn được viết tắt là “L/C”) là một phương thức vốn được phát triển thành thông lệ trên thế giới và hiện được sử dụng rộng rãi trong các giao dịch mua bán hàng hóa xuyên biên giới. Trong thời gian qua, việc Tổng Cục thuế (“TCT”) yêu cầu truy thu thuế giá trị gia tăng (“GTGT”) đối với phí giao dịch L/C từ ngày 01/01/2011 đã nhận được nhiều phản ứng trái chiều của các tổ chức tín dụng[1].
Hiện có hai quan điểm trái chiều giữa 02 cơ quan quan lý cấp bộ, cụ thể là Ngân hàng Nhà nước (“NHNN”)[2] và Bộ Tài chính (“BTC”)[3] liên quan vấn đề truy thu thuế GTGT đối với hoạt động L/C kể từ ngày 01/01/2011 và vấn đề này đã được báo cáo và xin ý kiến chỉ đạo xử lý của Thủ tướng Chính phủ[4], trong đó, (i) NHNN, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (“VNBA”), một số tổ chức tín dụng thành viên và Nhóm công tác Ngân hàng (“BWG”) – Liên minh Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam, đại diện cho các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam đều cho rằng hoạt động L/C có tính chất “lưỡng tính”, vừa là dịch vụ thanh toán, vừa là hoạt động cấp tín dụng, do đó, đề nghị chỉ áp dụng tính thuế GTGT đối với khoản phí dịch vụ L/C có tính chất dịch vụ thanh toán[5]; ngược lại, (ii) BTC và TCT cho rằng theo Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 (“Luật Các TCTD 2010”), L/C là hình thức cung ứng dịch vụ thanh toán nên sẽ không thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT từ ngày 01/01/2011[6].
Vậy hoạt động L/C là dịch vụ thanh toán hay hoạt động cấp tín dụng hay “lưỡng tính” tức là dịch vụ thanh toán và vừa là hoạt động cấp tín dụng? Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi sẽ trình bày các quy định liên quan đến L/C và phân tích bản chất L/C và các nghiệp vụ liên quan đến L/C mà các ngân hàng đã và đang cung cấp cho khách hàng, qua đó xác định thuộc tính tín dụng của L/C; còn các vấn đề khác có liên quan như (i) tính hợp pháp và hợp lý của việc truy thu thuế GTGT đối với phí giao dịch L/C từ ngày 01/01/2011, (ii) thuế GTGT và kinh nghiệm và cách tiếp cận việc thu thuế GTGT đối với L/C ở một số nước trên thế giới, và (iii) hiệu lực và giá trị pháp lý của công văn hướng dẫn tại Việt nam sẽ được chúng tôi trình bày trong các bài viết sau.
1. Khái quát về Thư tín dụng và quy định liên quan
1.1 Khái niệm Thư tín dụng (L/C)
Điều 1, Bản sửa đổi Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ – Uniform Custom and Pratice for Documentary Credits có hiệu lực từ ngày 01/07/2007 (UCP 600) của Phòng Thương mại quốc tế (“UCP 600”) quy định “Các quy tắc Thực hành Thống nhất về Tính dụng chứng từ, bản sửa đổi 2007, ICC xuất bản số 600 (“UCP”) là các quy tắc áp dụng cho bất kỳ tín dụng chứng từ (“tín dụng”) nào (bao gồm cả thư tín dụng dự phòng trong chừng mực mà các quy tắc này có thể áp dụng)”. Đáng lưu ý, UCP 600 là tập quán thương mại quốc tế đã được pháp luật Việt Nam công nhận[7] và được tất cả các ngân hàng tại Việt Nam tham chiếu và áp dụng trong các nghiệp vụ liên quan đến L/C[8].
Theo bản dịch UCP 600 không chính thức của Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC), “Tín dụng là một thỏa thuận, dù cho được mô tả hoặc đặt tên như thế nào, nhưng không thể hủy bỏ và do đó là một cam kết chắc chắn của ngân hàng phát hành về việc thanh toán cho một xuất trình phù hợp.”[9]; “Về bản chất, tín dụng là một giao dịch riêng biệt với hợp đồng mua bán hoặc các hợp đồng khác mà có thể là cơ sở của tín dụng. Các ngân hàng không liên quan đến hoặc ràng buộc bởi các hợp đồng như thế, ngay cả khi tín dụng có dẫn chiếu đến các hợp đồng như thế, ngay cả khi tín dụng có dẫn chiếu đến các hợp đồng đó.”[10]; và “Các ngân hàng giao dịch trên cơ sở các chứng từ chứ không phải bằng hàng hóa, dịch vụ hoặc các thực hiện khác mà các chứng từ có liên quan.”[11].
Tuy UCP 600 chỉ định nghĩa về “tín dụng” mà không định nghĩa về thư tín dụng (L/C), song căn cứ vào Điều 1, UCP 600 có thể khái quát về L/C như sau: “Thư tín dụng là cam kết của Ngân hàng Phát hành (ngân hàng phục vụ Bên mua) về việc thanh toán một khoản tiền nhất định, trong một khoảng thời gian nhất định cho bên thụ hưởng (Bên bán) với điều kiện bên thụ hưởng xuất trình được bộ chứng từ hợp lệ đúng theo quy định trong Thư tín dụng.”[12].
Giao dịch L/C cơ bản có thể minh họa bằng sơ đồ dưới đây:[13]
.png)
1.2 Quy định của pháp luật Việt Nam về L/C
Trước khi Luật Các tổ chức tín dụng 2024, có hiệu lực từ ngày 01/07/2024 (“Luật Các TCTD 2024”), cơ quan chức năng của Việt Nam chưa ban hành văn bản nào định nghĩa hay quy định chi tiết về hoạt động cấp tín dụng của L/C. Trước đó, L/C chỉ được đề cập ở một số văn bản như Luật Các TCTD 2010[14]. Theo khoản 15, Điều 4, Luật Các TCTD 2010, L/C là một trong những dịch vụ thanh toán được liệt kê[15]. Tuy nhiên, theo khoản 14, Điều 4, Luật Các TCTD 2010 “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Do đó, sau này với quy định tại Thông tư số 22/2019/TT-NHNN ngày 22/11/2019 của Ngân hàng Nhà nước (“Thông tư 22”), L/C còn được xem là nghiệp vụ cấp tín dụng bên cạnh dịch vụ thanh toán. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng Thông tư 22 là văn bản pháp luật quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của các ngân hàng song tại khoản 11, Điều 3, Thông tư 22 định nghĩa “Cấp tín dụng” có bao gồm “Cam kết phát hành dưới hình thức thư tín dụng chứng từ (L/C)”, theo đó “cam kết phát hành” nghĩa là một trong những nghiệp vụ liên quan đến L/C theo UCP 600.
Luật Các TCTD 2024 định nghĩa và quy định L/C là hoạt động cấp tín dụng bên cạnh là một trong những phương tiện thanh toán. Theo đó, khoản 4, Điều 4, Luật Các TCTD 2024 quy định “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng, thư tín dụng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác” và tại khoản 36, Điều 4, Luật Các TCTD 2024 quy định “Thư tín dụng là hình thức cấp tín dụng thông qua nghiệp vụ phát hành, xác nhận, thương lượng thanh toán, hoàn trả thư tín dụng”. Ngoài ra, L/C được quy định là một trong những dịch vụ thanh toán qua tài khoản, cụ thể điểm b, khoản 6, Điều 107, Luật Các TCTD 2024 quy định “Cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản sau đây: Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản; dịch vụ thanh toán khác theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước”.
Như vậy, L/C vừa là hoạt động cấp tín dụng và vừa là dịch vụ thanh toán đã được luật hóa bởi Luật Các TCTD 2024 có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2024. Theo chúng tôi được biết, hiện NHNN đang xây dựng dự thảo thông tư quy định về nghiệp vụ L/C và các hoạt động kinh doanh khác liên quan đến L/C[16]. Trong khi đó, trước Luật Các TCTD 2024, pháp luật chỉ quy định về tính chất của L/C (thực chất chỉ giới hạn ở “cam kết phát hành” L/C – một trong những nghiệp vụ của L/C theo quy định của UCP 600) là hoạt động cấp tín dụng tại Thông tư 22 mà thông tư này chỉ có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2020.
1.3 Bản chất tín dụng của L/C?
Vậy L/C là (i) dịch vụ thanh toán; hay (ii) hoạt động cấp tín dụng; hay (iii) vừa là hoạt động cấp tín dụng và vừa là dịch vụ thanh toán?
Theo chúng tôi để trả lời câu hỏi trên không chỉ dựa vào các quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động L/C mà phải dựa vào thuộc tính của L/C vốn đã hình thành lên bản chất của nó và các nghiệp vụ liên quan đến L/C đã được quy định tại UCP qua nhiều phiên bản, đã và đang được các ngân hàng cung cấp hợp pháp cho khách hàng.
Theo Điều 1, UCP 600 “Thư tín dụng là cam kết của Ngân hàng Phát hành (ngân hàng phục vụ Bên mua) về việc thanh toán một khoản tiền nhất định, trong một khoảng thời gian nhất định cho bên thụ hưởng (Bên bán) với điều kiện bên thụ hưởng xuất trình được bộ chứng từ hợp lệ đúng theo quy định trong Thư tín dụng.”[17].
Ở góc độ nào đó, L/C có thể được hiểu như một trong những nghiệp vụ “tín dụng ngân hàng” giữa Ngân hàng phát hành L/C (“NHPH”) và Bên bán hàng hóa, dịch vụ, thường là Bên xuất khẩu (“Bên bán”) (mặc dù không phải là cách hiểu tiêu chuẩn), theo đó NHPH cam kết thay Bên mua “thanh toán một khoản tiền nhất định, trong một khoảng thời gian nhất định cho Bên bán khi nhận được bộ chứng từ hợp lệ đúng theo quy định trong L/C”. Như vậy, thay vì Bên mua (thường là Bên nhập khẩu) cam kết sẽ thanh toán cho Bên bán “một khoản tiền nhất định, trong một khoảng thời gian nhất định” – một dạng “tín dụng thương mại”[18] – sau khi Bên bán giao hàng hóa thì NHPH sẽ thực hiện cam kết thanh toán cho Bên bán theo đề nghị cung cấp nghiệp vụ phát hành L/C của Bên mua.
Theo cách hiểu này, bằng việc NHPH phát hành L/C cho Bên bán đã phát sinh tín dụng ngân hàng chỉ giữa NHPH và Bên bán thay cho tín dụng thương mại giữa Bên mua và Bên bán. Tuy nhiên, xét ở góc độ này thì có thể thấy L/C chưa có thuộc tính tín dụng của NHPH cấp cho Bên mua.
Ở góc nhìn khác, có một số ý kiến nhận định rằng “L/C là một phương thức bảo lãnh thanh toán quốc tế, thực chất là cam kết thanh toán của ngân hàng phát hành, bảo đảm là người mua sẽ thanh toán tiền mua hàng hóa cho người bán khi các điều kiện quy định trong L/C được thực hiện đúng và đầy đủ. Nếu người mua không thanh toán đúng hạn, ngân hàng phát hành thực hiện cho vay bắt buộc đối với người mua để thanh toán cho người bán”[19]. Nhận định L/C là một phương phức bảo lãnh thanh toán quốc tế là quan điểm khá phổ biến trong những năm trước đây. Nhận định như vậy, theo chúng tôi chưa sát với bản chất của L/C nói chung, ngoại trừ L/C dự phòng (Standby L/C), tuy cũng mang tên gọi L/C song vốn có bản chất là bảo lãnh ngân hàng[20].
Sự khác biệt giữa L/C (trừ L/C dự phòng) và bảo lãnh ngân hàng có thể được phân như sau: Theo khoản 18, Điều 4 Luật Các TCTD 2010 “Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết;…”[21]. Hiện có rất nhiều loại bảo lãnh ngân hàng và nếu chỉ phân loại theo mục đích sử dụng sẽ có bảo lãnh thanh toán trong nước và nước ngoài. Theo quy định tại khoản 18, Điều 4 Luật Các TCTD 2010, đối với bảo lãnh thanh toán, ngân hàng sẽ chỉ phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán thay cho khách hàng khi khách hàng không thanh toán hoặc không thanh toán đầy đủ như đã cam kết đã được thỏa thuận giữa khách hàng và bên nhận bảo lãnh. Ngoài ra, trước khi thực hiện nghĩa vụ trả thay cho khách hàng, ngân hàng ngoài căn cứ vào thư bảo lãnh còn căn cứ các cam kết quy định tại thỏa thuận của khách hàng với bên nhận bảo lãnh. Trong khi đó, đối với L/C, theo quy định của UCP 600, L/C riêng biệt và độc lập với hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ giữa bên bán và bên mua[22], và ngân hàng thanh toán thay cho khách hàng chỉ căn cứ vào bộ chứng từ hợp lệ có phù hợp với L/C hay không[23]. Đây là hai trong các lý do cho thấy bảo lãnh thanh toán quốc tế và L/C là hai nghiệp vụ khác nhau.
Do đó, ý kiến cho rằng L/C là một phương phức bảo lãnh thanh toán quốc tế là có thể chưa phù hợp với bản chất vốn có của L/C. Bằng chứng là không có bất kỳ văn bản pháp luật nào quy định L/C là một phương phức bảo lãnh thanh toán quốc tế. Hơn nữa, sau nhiều năm, việc L/C được định nghĩa và quy định là một trong những hoạt động cấp tín dụng bên cạnh dịch vụ thanh toán đã được luật hóa bởi Luật Các TCTD 2024.
Theo UCP, L/C chính là cam kết của ngân hàng phát hành sẽ thanh toán cho Bên mua khi Bên bán xuất trình bộ chứng từ đầy đủ và phù hợp với quy định của L/C. Nếu xét theo nghĩa rộng của khái niệm này cùng với quy trình và các nghiệp vụ mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng trước khi phát hành L/C thì có thể thấy L/C là hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng tương tự như bảo lãnh ngân hàng. Theo UCP, các nghiệp vụ liên quan đến L/C do các ngân hàng cung cấp cho khách hàng bao gồm nhiều loại nghiệp vụ khác nhau và được phân loại thành 02 nhóm: (i) Nhóm nghiệp vụ có tính chất tín dụng bao gồm nghiệp vụ phát hành, xác nhận, thương lượng thanh toán và hoàn trả L/C; (ii) Nhóm nghiệp vụ không có tín chất tín dụng bao gồm các dịch vụ khác ngoài các nghiệp vụ nêu trên[24] như thông báo L/C và một số hoạt động khác (không cam kết thanh toán)[25].
Trong nghiệp vụ L/C hiện được các ngân hàng đã và đang thực hiện, ngân hàng phát hành L/C cho bên thụ hưởng theo nguyên tắc có hoàn trả, cụ thể là khách hàng (Bên mua) có đề nghị phát hành L/C phải thanh toán cho ngân hàng theo đúng thỏa thuận phát hành L/C giữa khách hàng và ngân hàng[26]. Trên thực tế, theo quy trình phát hành L/C của các ngân hàng, để được ngân hàng phát hành L/C, khách hàng phải có đề nghị phát hành L/C kèm theo tài liệu, hồ sơ liên quan như hợp đồng mua bán hàng hóa,… (“hồ sơ đề nghị phát hành L/C”). Sau khi nhận được hồ sơ đề nghị phát hành L/C của khách hàng, ngân hàng sẽ thẩm định hồ sơ này, trong đó có thẩm tra nguồn thanh toán L/C của khách hàng trước khi phê duyệt việc phát hành L/C, đồng thời phê duyệt nguồn thanh toán L/C. Hiện có nhiều loại L/C như L/C trả ngay (Sight payment L/C)[27], L/C cam kết trả chậm (Deferred payment L/C), L/C chấp nhận (Acceptance L/C), L/C không hủy ngang (Irrevocable L/C), L/C hủy ngang (Revocable L/C)… Thông thường, nguồn thanh toán L/C bao gồm (i) tiền có sẵn tại tài khoản thanh toán của khách hàng và để đảm bảo nguồn thanh toán, thông thường khách hàng ký quỹ 100% giá trị L/C bằng cùng loại tiền tệ, hoặc (ii) nguồn khác, chủ yếu là vay ngân hàng để thanh toán L/C bao gồm vay theo món hoặc theo hạn mức tín dụng.
Về nghĩa vụ thanh toán của khách hàng đối với ngân hàng sau khi thanh toán L/C, trường hợp: (i) trong thỏa thuận phát hành L/C giữa khách hàng và ngân hàng, không có thỏa thuận cho phép ngân hàng trích nợ tự động trên tài khoản thanh toán của khách hàng để thanh toán L/C hoặc có thỏa thuận này nhưng số dư trên tài khoản thanh toán của khách hàng không đủ để thanh toán L/C[28], ngân hàng sẽ thực hiện nghiệp vụ cho vay bắt buộc đối với khách hàng[29] theo thỏa thuận vay đã ký trước khi phát hành L/C. Vì phát hành L/C có chứa rủi ro cho hoạt động của ngân hàng, đặc biệt khi phải cho vay bắt buộc nên hoạt động L/C được liệt kê vào một trong những hoạt động phải quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn như tại Thông tư 22.
Theo khoản 4, Điều 4, Luật Các TCTD 2024 “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả …”. Do đó, việc quy định L/C là một trong những hoạt động cấp tín dụng bên cạnh dịch vụ thanh toán (tùy theo nghiệp vụ L/C) không chỉ phù hợp với bản chất của L/C mà còn phù hợp với các nghiệp vụ liên quan đến L/C mà các ngân hàng đã, đang cung cấp cho khách hàng vốn đã định hình từ rất lâu theo UCP (hiện là UCP 600) – tập quán thương mại quốc tế đã được pháp luật Việt Nam công nhận[28] và được tất cả các ngân hàng tại Việt Nam tham chiếu và áp dụng[29].
Lưu ý miễn trừ: Xin lưu ý rằng bài viết này không phải là ý kiến pháp lý toàn diện cho bất kỳ trường hợp cụ thể nào. Vui lòng tham khảo ý kiến chuyên gia trong trường hợp Quý vị gặp phải các vấn đề pháp lý liên quan.
BROSS & Partners là công ty luật Việt Nam được đề xuất bởi Legal 500 Asia Pacific, Chamber Asia Pacific, AsiaLaw, IFLR1000, Benchmark Litigation, có kinh nghiệm và năng lực tư vấn và giải quyết tranh chấp liên quan đến Đầu tư, Doanh nghiệp và Thương mại, Mua bán & Sáp nhập, Lao động & Việc làm, Bất động sản & Xây dựng, Tài chính – Ngân hàng, Chứng khoán, Thị trường Vốn, và Sở hữu Trí tuệ.
Trường hợp Quý vị cần hỗ trợ, vui lòng liên hệ: hoang@bross.vn; Mobile: +84 903 556 119; WhatsApp: +84 903 556 119; Zalo: +84 903 556 119; Skype: +84 903 556 119.
[1] Hồ Thanh Bình – Vụ Pháp chế Ngân hàng nhà nước, Vướng mắc trong việc xác định thu thuế giá trị gia tăng đối với Thư tín dụng (L/C), Nghiên cứu lập pháp, số 15(439)-T8/2021, trang 34.
[2] Công văn 9463/NHNN-TD ngày 11/12/2023, Công văn 583/NHNN-TD ngày 25/01/2024.
[3] Công văn 553/BTC-TCT ngày 12/01/2024.
[4] Thông báo số 324/TB-VPCP ngày 12/08/2023.
[5] Công văn số 08122023BWCVBF ngày 08/12/2023 của BWG
[6] Công văn số 1606/TCT-DNL ngày 22/04/2020 của Tổng Cục thuế.
[7] Điều 3.4 Luật TCTD 2010.
[8] Công văn số 08122023BWGVBF ngày 08/12/2023 của Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam (Vietnam Business Forum).
[9] Điều 2 UCP 600.
[10] Điều 4(a) UCP 600.
[11] Điều 5 UCP 600.
[12] Hồ Thanh Bình – Vụ Pháp chế Ngân hàng nhà nước, Vướng mắc trong việc xác định thu thuế giá trị gia tăng đối với Thư tín dụng (L/C), Nghiên cứu lập pháp, số 15(439)-T8/2021, trang 35.
[13] Trần Thị Hoà Bình & Trần Văn Nam (cb), Giáo trình Luật Thương mại Quốc tế, NXB Lao động – Xã hội, 2005, trang 296.
[14] Hồ Thanh Bình – Vụ Pháp chế Ngân hàng nhà nước, Vướng mắc trong việc xác định thu thuế giá trị gia tăng đối với Thư tín dụng (L/C), Nghiên cứu lập pháp, số 15(439)-T8/2021, trang 35.
[15] Khoản 15, Điều 4, Luật Các TCTD 2010.
[16] Chí Tín, Ngân hàng Nhà nước xây dựng thông tư về nghiệp vụ thư tín dụng, Thời báo Tài chính ngày 13/03/2024.
[17] Hồ Thanh Bình – Vụ Pháp chế Ngân hàng nhà nước, Vướng mắc trong việc xác định thu thuế giá trị gia tăng đối với Thư tín dụng (L/C), Nghiên cứu lập pháp, số 15(439)-T8/2021, trang 35.
[20] “Ngân hàng phát hành cam kết thanh toán cho bên thụ hưởng trên cơ sở xuất trình chứng từ về việc vi phạm nghĩa vụ của khách hàng mở Thư tín dụng dự phòng. Do đó, Thư tín dụng dự phòng là cam kết thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng vi phạm nghĩa vụ với bên thụ hưởng và là hình thức bảo lãnh ngân hàng” – Hồ Thanh Bình – Vụ Pháp chế Ngân hàng nhà nước, Vướng mắc trong việc xác định thu thuế giá trị gia tăng đối với Thư tín dụng (L/C), Nghiên cứu lập pháp, số 15(439)-T8/2021, trang 37.
[21] Nay là khoản 18, Điều 4 Luật Các TCTD 2024.
[22] Điều 4(a) UCP 600
[23] “Các ngân hàng giao dịch trên cơ sở các chứng từ chứ không phải bằng hàng hóa, dịch vụ hoặc các thực hiện khác mà các chứng từ có liên quan.” – Điều 5 UCP 600.
[24] Công văn số 08122023BWGVBF ngày 08/12/2023 của Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam (Vietnam Business Forum), trang số 3.
[25] Ngô Hải, Bùi Trang, Áp thuế GTGT đối với toàn bộ nghiệp vụ Thư tín dụng là một bất cập, gây nhiều khó khăn cho TCTD, Tạp chí Tài chính – Tiền tệ, số 7 (567), năm 2021.
[26] Hồ Thanh Bình – Vụ Pháp chế Ngân hàng nhà nước, Vướng mắc trong việc xác định thu thuế giá trị gia tăng đối với Thư tín dụng (L/C), Nghiên cứu lập pháp, số 15(439)-T8/2021, trang 36.
[27] “Đặc điểm cơ bản của loại L/C này là người xuất khẩu được thanh toán ngay khi xuất trình bộ chứng từ phù hợp. Thanh toán ngay được hiểu là trong vòng 05 ngày làm việc của ngân hàng” – Trao đổi về UPAS, Website của Ngân hàng Nhà nước ngày 02/02/2023.
[28] Đó là lý thuyết. Thực tế, nếu khách hàng có số dư tại tài khoản thanh toán, ngân hàng sẽ yêu cầu khách hàng ký quỹ trước khi phát hành L/C, trừ khi có thỏa thuận khác.
[29] Hồ Thanh Bình – Vụ Pháp chế Ngân hàng nhà nước, Vướng mắc trong việc xác định thu thuế giá trị gia tăng đối với Thư tín dụng (L/C), Nghiên cứu lập pháp, số 15(439)-T8/2021, trang 36.
[30] Điều 3.4 Luật TCTD 2010.
[31] Công văn số 08122023BWGVBF ngày 08/12/2023 của Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam (Vietnam Business Forum).
Để lại một bình luận