BÀN VỀ HIỆU LỰC PHÁP LÝ CỦA THỎA THUẬN KHÔNG CẠNH TRANH (NCA) SAU KHI CÓ ÁN LỆ 69/2023/AL
Nguyễn Huy Hoàng, Luật sư Thành viên, BROSS & Partners
Email: hoang@bross.vn
Đoàn Thanh Bình, Luật sư, BROSS & Partners
Email: binh.dt@bross.vn
Kể từ khi nền kinh tế Việt Nam mở cửa, cùng với sự xuất hiện của các tập đoàn đa quốc gia, thỏa thuận bảo mật và không cạnh tranh (tiếng Anh là Non-Disclosure and Compete Agreement, viết tắt là “NDCA”) đã xuất hiện nhiều trong quan hệ lao động. NDCA có thể được thỏa thuận trong hợp đồng lao động (“HĐLĐ”), là một phần của HĐLĐ hoặc bằng thỏa thuận độc lập. NDCA thông thường bao gồm NDA (Non-Disclosure Agreement) và NCA (Non-Compete Agreement). Mặc dù vậy, các khía cạnh pháp lý, trong đó có vấn đề hiệu lực của NCA vẫn còn nhiều quan điểm thậm chí có ý kiến trái chiều ngay cả khi Án lệ 69/2023/AL về thẩm quyền của Trọng tài thương mại trong giải quyết tranh chấp liên quan đến NDCA (“Án lệ 69”) đã được công bố.
Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi bàn luận và trao đổi một số quan điểm pháp lý liên quan vấn đề hiệu lực của NCA theo pháp luật Việt Nam.
1. Bản chất của NCA
NCA là thỏa thuận theo đó người lao động (“NLĐ”) cam kết với người sử dụng lao động (“NSDLĐ”) sẽ không làm việc cho các đối thủ cạnh tranh của NSDLĐ trong một khoảng thời gian nhất định sau khi chấm dứt HĐLĐ. Mục đích của việc xác lập NCA là bảo vệ bí mật kinh doanh và bí quyết công nghệ, vốn là tài sản vô hình của NSDLĐ được quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2009 (“Luật SHTT”) (Điều 3.2, Luật SHTT) và phải được các bên, trong đó có NLĐ tôn trọng. NSDLĐ được pháp luật cho phép áp dụng các biện pháp cần thiết, có thể bao gồm xác lập NCA để bảo vệ bí mật kinh doanh và bí quyết công nghệ của mình (Điều 84.3, Luật SHTT).
2. Hiệu lực của NCA
2.1 Trong khi hiệu lực pháp lý của NDA đã được pháp luật Việt nam công nhận và quy định cụ thể tại Bộ luật Lao động (“BLLĐ”) (Điều 21.2, BLLĐ 2019[1], trước đó là Điều 23.2, BLLĐ 2012[2]) và Thông tư số 10/2020/TT-BLĐTBXH ngày 12/11/2020 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (“TT 10/2020/TT-LĐTBXH”) (Điều 4.1, TT 10/2020/TT-LĐTBXH[3]), thì các khía cạnh pháp lý và hiệu lực của NCA chưa có quy định cụ thể, cho dù theo chúng tôi bản chất, mục đích xác lập và cơ chế tài phán tại Việt Nam đối với NDA và NCA không có gì khác nhau. Cả NDA và NCA được xác lập với mục đích là để bảo vệ bí mật kinh doanh và bí quyết công nghệ của NSDLĐ. Khi NDA và NCA bị vi phạm, Tòa án sẽ có thẩm quyền giải quyết nếu hành vi vi phạm NDA và NCA xảy ra trong thời gian hiệu lực của HĐLĐ, ngược lại, thẩm quyền sẽ thuộc về Tòa án hoặc Trọng tài thương mại (nếu các bên có thỏa thuận) nếu hành vi vi phạm NDA và NCA xảy ra sau khi HĐLĐ chấm dứt. Vì pháp luật chưa có quy định điều chỉnh cụ thể, nên vấn đề hiệu lực của NCA vẫn còn nhiều ý kiến trái chiều ngay cả khi Án lệ 69 đã được công bố. Thực tế, cùng một loại tranh chấp NCA, có Tòa án công nhận hiệu lực NCA[4], có Tòa án lại nhận định là NCA vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật[5].
2.2 Án lệ 69 chỉ quy định giải pháp pháp lý cho các trường hợp vi phạm NCA tương tự sau khi HĐLĐ chấm dứt, theo đó Án lệ 69 đã “xác định tranh chấp về thỏa thuận bảo mật thông tin và không cạnh tranh giữa hai bên là thỏa thuận độc lập với hợp đồng lao động, thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài thương mại”[6]. Mặc dù, tại Mục [6], Phần nhận định của Quyết định 755/2018/QĐ-PQTT ngày 12/06/2018 – nguồn của Án lệ 69 (“Quyết định 755”), Tòa án có nhận định “NDA [thực chất là NCA] có hiệu lực. Việc Hội đồng trọng tài công nhận hiệu lực của NDA là hoàn toàn đúng pháp luật” nhưng Án lệ 69 không phải án lệ xác định hiệu lực của NCA. Do đó, việc đánh giá hiệu lực của NCA phải dựa vào từng trường hợp cụ thể và phụ thuộc quan điểm pháp lý của cơ quan tài phán, nhất là Tòa án
2.3 Quan điểm của chúng tôi khi tham gia giải quyết một số tranh chấp liên quan đến NCA là NCA có hiệu lực pháp luật nếu loại thoả thuận này được xác lập “trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận”[7] và NCA không bị coi là vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật nếu căn cứ vào các quy định sau đây: Điều 35.1 Hiến pháp 2013 quy định “Công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc”, Điều 9.2 BLLĐ 2012 quy định “Nhà nước, người sử dụng lao động và xã hội có trách nhiệm tham gia giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm”. Điều 10.1 BLLĐ 2019 quy định NLĐ “Được làm việc cho bất kỳ người sử dụng lao động nào và ở bất kỳ nơi nào mà pháp luật không cấm”. Theo chúng tôi, các quy định trên không phải là điều cấm của pháp luật, vì theo Điều 123 BLDS 2015: “Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định”. Các điều khoản trên chính là các quy định liên quan đến quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp của NLĐ mà các chủ thể khác phải tôn trọng. Tuy nhiên, vì là quyền nên NLĐ với đầy đủ năng lực hành vi dân sự của mình có thể “từ bỏ” việc thực hiện quyền đó bằng hành vi pháp lý đơn phương hoặc bằng thoả thuận với chủ thể khác. Việc “từ bỏ” này nếu đảm bảo nguyên tắc tự do ý chí[8] và không “xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”[9] thì phải được các chủ thể khác tôn trọng[10] bao gồm cả cơ quan tài phán. Ngược lại, NLĐ có quyền yêu cầu NSDLĐ trả một khoản tiền “trung thành” khi thỏa thuận và xác lập NCA theo nguyên tắc bình đẳng[11] và thiện chí[12] của Bộ luật Dân sự 2015.
2.4 Ngoài ra, Điều 9.6 Luật Việc làm 2013 có quy định cấm cản trở, gây khó khăn hoặc làm thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động (và cả của người sử dụng lao động), tuy nhiên nếu việc xác lập NCA của NLĐ là tự nguyện, tự do, thì sẽ không hợp lý nếu cho rằng NSDLĐ đã cản trở, gây khó khăn hay làm thiệt hại cho NLĐ. Nói cách khác, theo chúng tôi, Luật Việc làm không cấm việc thỏa thuận và xác lập NCA, mà chỉ cấm các hành vi cản trở, gây thiệt hại đối với NLĐ như NSDLĐ ép buộc, lừa dối để NLĐ ký kết NCA. Do đó, khi NLĐ từ bỏ việc thực hiện quyền làm việc cho một số doanh nghiệp bằng chính thoả thuận mà họ đã tự nguyện ký với NSDLĐ thì không thể coi thoả thuận đó đã vi phạm các điều cấm của luật được. Quan điểm này được chúng tôi sử dụng để bảo vệ cho hiệu lực pháp lý của NCA trong các tranh chấp liên quan đến thỏa thuận này và đều được các cơ quan tài phán là Hội đồng Trọng tài và Tòa án chấp nhận, đồng thời, nhận định là NCA có hiệu lực và không bị vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật[13].
2.5 Mặc dù vậy, đây chỉ là một số trong các tranh chấp liên quan đến NCA được giải quyết. Trong khi chưa có quy định cụ thể liên quan đến khía cạnh pháp lý của NCA như đã có quy định với NDA, việc xác định hiệu lực của NCA có lẽ phải tùy thuộc vào từng vụ việc cụ thể. Với việc pháp luật không quy định trực tiếp, minh thị về hiệu lực của NCA, tính hợp lý của NCA cũng cần được xét tới khi các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự và lẽ công bằng cũng được sử dụng là căn cứ pháp lý để giải quyết tranh chấp dân sự tại Toà án[14]. Thông tin mật, bí mật kinh doanh đang ngày càng trở nên quan trọng đối với nhiều doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế nói chung, song cơ chế pháp lý chủ yếu để bảo hộ các tài sản này vẫn là chế định bồi thường thiệt hại thực tế truyền thống. Việc chứng minh vi phạm cũng như thiệt hại thực tế hoàn toàn không đơn giản, nếu xảy ra vi phạm mà doanh nghiệp phải “chờ” đến khi có thể chứng minh thiệt hại, yêu cầu bồi thường thiệt hại thì đã “quá muộn”. Vì vậy, NCA có thể là một công cụ pháp lý cần thiết để khắc phục và phòng ngừa từ sớm các rủi ro thiệt hại cho doanh nghiệp, cũng như tạo nên một rào cản đạo đức để hạn chế các hành vi tiêu cực, trái đạo đức kinh doanh, cạnh tranh không lành mạnh như (i) NLĐ tiết lộ, “bán” bí mật kinh doanh, thông tin mật của doanh nghiệp cho đối thủ cạnh tranh, (ii) đối thủ cạnh tranh mua chuộc, lôi kéo NLĐ tiết lộ bí mật kinh doanh, thông tin mật của doanh nghiệp, v.v…
2.6 Tuy vậy, không thể phủ nhận ý nghĩa và giá trị pháp lý của Án lệ 69 khi nó được xây dựng trên cơ sở Quyết định 755, – nguồn án lệ, mà một trong những nội dung quan trọng của Quyết định 755 là Tòa án có nhận định rằng “[NCA] có hiệu lực. Việc Hội đồng trọng tài công nhận hiệu lực của [NCA] là hoàn toàn đúng pháp luật”. Với nhận định này, chúng ta đã có thêm lập luận pháp lý quan trọng để chứng minh cho hiệu lực pháp lý của NCA.
Lưu ý miễn trừ: Bài viết chỉ nhằm mục đích chia sẻ, trao đổi thông tin tham khảo và không được coi là tư vấn pháp lý của Luật sư liên quan đến hiệu lực của NCA cũng như bất kỳ vấn đề pháp lý nào.
BROSS & Partners là công ty luật Việt Nam được đề xuất bởi Legal 500 Asia Pacific, Chamber Asia Pacific, AsiaLaw, IFLR1000, Benchmark Litigation, có kinh nghiệm và năng lực tư vấn và giải quyết tranh chấp liên quan đến Đầu tư, Doanh nghiệp và Thương mại, Mua bán & Sáp nhập, Lao động & Việc làm, Bất động sản & Xây dựng, Tài chính – Ngân hàng, Chứng khoán, Thị trường Vốn, và Sở hữu Trí tuệ.
Trường hợp Quý vị cần hỗ trợ, vui lòng liên hệ: hoang@bross.vn; Mobile: +84 903 556 119; WhatsApp: +84 903 556 119; Zalo: +84 903 556 119; Skype: +84 903 556 119.
[1] “Khi người lao động làm việc có liên quan trực tiếp đến bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ theo quy định của pháp luật thì người sử dụng lao động có quyền thỏa thuận bằng văn bản với người lao động về nội dung, thời hạn bảo vệ bí mật kinh doanh, bảo vệ bí mật công nghệ, quyền lợi và việc bồi thường trong trường hợp vi phạm.”
[2] “Khi người lao động làm việc có liên quan trực tiếp đến bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ theo quy định của pháp luật, thì người sử dụng lao động có quyền thỏa thuận bằng văn bản với người lao động về nội dung, thời hạn bảo vệ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, quyền lợi và việc bồi thường trong trường hợp người lao động vi phạm.”
[3] “Khi phát hiện người lao động vi phạm thỏa thuận bảo vệ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ thì người sử dụng lao động có quyền yêu cầu người lao động bồi thường theo thỏa thuận của hai bên. Trình tự, thủ tục xử lý bồi thường được thực hiện như sau:
a) Trường hợp phát hiện người lao động có hành vi vi phạm trong thời hạn thực hiện hợp đồng lao động thì xử lý theo trình tự, thủ tục xử lý việc bồi thường thiệt hại quy định tại khoản 2 Điều 130 của Bộ luật Lao động;
b) Trường hợp phát hiện người lao động có hành vi vi phạm sau khi chấm dứt hợp đồng lao động thì xử lý theo quy định của pháp luật dân sự và pháp luật khác có liên quan.”
[4] Bản án số 420/2019/LĐ-PT ngày 15/5/2019, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
[5] Bản án số 09/2010/LĐ-ST ngày 10-12-2010 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
[6] Nội dung khát quát của Án lệ 69.
[7] Điều 3.2 Bộ luật Dân sự 2015.
[8] Điều 3.2 Bộ luật Dân sự 2015.
[9] Điều 3.4 Bộ luật Dân sự 2015.
[10] Điều 3.2 Bộ luật Dân sự 2015.
[11] Điều 3.1 Bộ luật Dân sự 2015.
[12] Điều 3.3 Bộ luật Dân sự 2015.
[13] Quyết định 755/2018/QĐ-PQTT ngày 12/06/2018 của Hội đồng xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài thương mại, Tòa án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh.
[14] Điều 45.3 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 “Tòa án áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng để giải quyết vụ việc dân sự khi không thể áp dụng tập quán, tương tự pháp luật theo quy định tại Điều 5 và khoản 1 Điều 6 của Bộ luật dân sự, khoản 1 và khoản 2 Điều này”.
Để lại một bình luận