Bảo hộ Nhãn hiệu/Thương hiệu tại Cambodia
Cambodia, tên đầy đủ là Vương quốc Cambodia, một trong số 10 quốc gia thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), là một trong các thị trường xuất khẩu đang tăng trưởng nhanh của các doanh nghiệp Việt Nam trong vài năm trở lại đây.
Để bảo hộ thương hiệu tại Cambodia, hiện tại chỉ có một cách là nộp đơn đăng ký quốc gia vào quốc gia này để có thể giành được đăng ký bảo hộ nhãn hiệu vì Cambodia không phải là thành viên của Thỏa ước Madrid và/hoặc Nghị định thư Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu. Liên quan đến lĩnh vực sở hữu trí tuệ, Cambodia là thành viên của các Công ước quốc tế khác sau:
- Công ước WIPO (WIPO Convention) gia nhập ngày 25/04/1995 có hiệu lực từ 25/07/1995
- Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (Paris Convention) tham gia ngày 22/06/1998 có hiệu lực từ 22/09/1998
Luật và các quy định hiện hành của Cambodia liên quan đến nhãn hiệu gồm:
- Luật Sáng chế, Mẫu hữu ích và Kiểu dáng công nghiệp năm 2003
- Luật Quyền tác giả và các quyền kề cận năm 2003
- Luật Nhãn hiệu, Tên thương mại và Cạnh tranh không lành mạnh năm 2002
Điều kiện bảo hộ
Bất kỳ dấu hiệu nào dưới dạng chữ, từ ngữ, logo hoặc kết hợp giữa chúng có màu sắc hoặc đen trắng đều có khả năng bảo hộ với tư cách là nhãn hiệu tại Cambodia miễn là chúng đáp ứng 3 điều kiện sau:
- Có chức năng phân biệt nguồn gốc thương mại; và
- Không thuộc đối tượng bị cấm đăng ký; và
- Không trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu của người khác đã nộp đơn hoặc đã đăng ký từ trước

Nguyên tắc nộp đơn đầu tiên (First-to-File)
Tương tự như Việt Nam, Cambodia cũng là quốc gia áp dụng nguyên tắc chỉ cấp quyền độc quyền cho nhãn hiệu nào được nộp sớm nhất trong số các nhãn hiệu xin đăng ký. Và Cambodia cho phép người nộp đơn được xin hưởng ngày ưu tiên cho đơn ở Cambodia dựa trên đơn đăng ký nhãn hiệu ở bất kỳ nước nào khác cũng là thành viên của Công ước Paris trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày nộp đơn đầu tiên
Tài liệu và thông tin cần thiết để nộp đơn đăng ký
- Tên, địa chỉ đầy đủ và quốc tịch của người nộp đơn;
- Mẫu nhãn hiệu yêu cầu bảo hộ;
- Danh mục sản phẩm/dịch vụ mang nhãn hiệu xin đăng ký theo Thỏa ước Nice lần thứ 10;
- Bản gốc Giấy ủy quyền cho Bross & Partners được công chứng và bản dịch tiếng Anh có chứng thực;
- Tài liệu ưu tiên và bản dịch tiếng Anh có chứng thực tài liệu xin hưởng quyền ưu tiên theo Công ước Paris (nếu có)
Trình tự xét nghiệm bảo hộ nhãn hiệu
Trong trường hợp không có từ chối bởi Cơ quan nhãn hiệu Cambodia, thời gian trung bình từ khi nộp đơn đến khi được cấp đăng ký bảo hộ nhãn hiệu ở Cambodia là khoảng từ 9-12 tháng tùy thuộc vào số lượng đơn được nộp hàng năm. Cụ thể, việc xét nghiệm đơn đăng ký được trải qua 2 giai đoạn:
Nộp đơn và xét nghiệm
Cơ quan nhãn hiệu Cambodia không cấp số đơn và ngày nộp đơn tại thời điểm nộp đơn mà sẽ chỉ cung cấp bản xác nhận số đơn và ngày nộp trong khoảng 1 tháng sau ngày nộp đơn. Và sau đó đơn sẽ được tiến hành xét nghiêm về cả hình thức và nội dung trong thời hạn 6-9 tháng.
Cấp đăng ký
Nếu không tìm thấy căn cứ từ chối, Cơ quan nhãn hiệu Lào sẽ ra thông báo cấp văn bằng bảo hộ và yêu cầu người nộp đơn phải nộp phí cấp bằng. Giấy chứng nhận có hiệu lực 10 năm tính từ ngày nộp đơn và có thể được gia hạn không hạn chế, mỗi lần 10 năm.
Chi phí dự kiến
Tổng chi phí dự kiến kể cả lệ phí Chính phủ và thuế GTGT để đăng ký một nhãn hiệu ở Cambodia nằm trong khoảng 335-350USD.
Các khía cạnh khác cần lưu ý khi nộp đơn ở Cambodia
- Cambodia không chấp nhận nộp một đơn đăng ký cho nhiều nhóm sản phẩm. Thay vì thế mỗi nhóm sản phẩm gắn liền với một nhãn hiệu phải được nộp một đơn riêng (single-class application);
- Nên sử dụng dịch vụ tra cứu khả năng đăng ký của nhãn hiệu được cung cấp bởi chính Cơ quan nhãn hiệu Cambodia trước khi nộp đơn để tránh khả năng bị từ chối vì một trong 3 căn cứ từ chối đã nêu trên
- Cần phải đưa nhãn hiệu đã đăng ký vào sử dụng trong thương mại để tránh nguy cơ nhãn hiệu có thể bị chấm dứt hiệu lực bởi bên thứ 3 vì lý do 5 năm liên tục không sử dụng nhãn hiệu tính đến ngày đơn khiếu nại hủy bỏ được nộp.
- Chủ nhãn hiệu chỉ có thể được chấp nhận gia hạn hiệu lực một đăng ký nhãn hiệu khi và chỉ khi tuyên bố sử dụng/không sử dụng nhãn hiệu đã đăng ký (Affidavit of Use/Non-use) đã được nộp giữa năm thứ 5 & năm thứ 6 kể từ ngày đăng ký.
Để lại một bình luận