CẤM “PHÍ THÀNH CÔNG”: COI CHỪNG VỪA TRÁI LUẬT – VỪA CHẶN ĐƯỜNG NHỜ LUẬT SƯ CỦA DÂN NGHÈO?
Từ phán quyết coi thỏa thuận giữa luật sư và khách hàng là “hứa thưởng” và tuyên giao dịch dân sự” vô hiệu”, tranh luận trong giới nghiên cứu và thực hành pháp luật đến nay vẫn chưa có hồi kết. Gần đây, xuất hiện đề xuất nâng Quyết định giám đốc thẩm số 271/2024/QĐ-GĐT ngày 24/10/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh (sau đây gọi tắt là “Quyết định GĐT số 271”[1]) thành “ÁN LỆ”. Đề xuất này không chỉ tác động trực tiếp đến hàng nghìn giao dịch dịch vụ pháp lý đã và đang được xác lập trên thực tế giữa luật sư và khách hàng. Vô tình đẩy rủi ro pháp lý về phía luật sư và chặn đường nhờ luật sư của người dân không dư dả tài chính.
Trước bối cảnh đó, người viết xin nêu một số quan điểm pháp lý mang tính cá nhân, từ góc độ lý luận đến thực tiễn áp dụng, nhằm góp phần làm rõ bản chất pháp lý của thỏa thuận “Phí thành công” – “Hứa thưởng” trong hợp đồng dịch vụ pháp lý, đồng thời bổ sung thêm luận cứ cho các tranh luận xoay quanh đề xuất nêu trên. Bài viết không bàn đến các thỏa thuận mang mang ý nghĩa mặt trái hoạt động giải quyết khách quan của các Cơ quan Nhà nước, trái đạo đức nghề nghiệp hoặc vi phạm pháp luật, mà chỉ tập trung phân tích tính pháp lý của những thỏa thuận tự nguyện, minh bạch và hướng tới việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng.
Trong phần nhận định, Quyết định GĐT số 271 cho rằng việc luật sư ký kết “Hợp đồng hứa thưởng” với khách hàng đã vi phạm điểm đ khoản 1 Điều 9 Luật Luật sư [2] và Quy tắc số 9.2 Bộ Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam[3], từ đó xác định giao dịch vi phạm điều cấm của pháp luật và vô hiệu theo các Điều 117 và 123 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Để làm rõ những khúc mắc pháp lý này, xác định rõ một số khái niệm và quy định pháp luật như sau:
1. Hứa thưởng hay Thù lao luật sư theo nguyên lý “No Success, No Fee”
Theo Điều 570 Bộ luật Dân sự năm 2015, “hứa thưởng” là việc một chủ thể công khai cam kết trả thưởng cho người thực hiện một công việc nhất định; đây là một hành vi pháp lý đơn phương, không đòi hỏi sự thỏa thuận song phương trước đó. Về bản chất, chế định này hướng tới các trường hợp có một hoặc nhiều người cùng tham gia thực hiện công việc định trước, có khả năng hoàn thành và người hứa thưởng có nghĩa vụ trả thưởng cho người hoàn thành theo quy định của pháp luật.
Trong khi đó, trong thực tiễn hành nghề, thuật ngữ “hứa thưởng” đôi khi được các luật sư sử dụng một cách không thật sự chuẩn xác để chỉ khoản “thù lao phụ thuộc vào kết quả” giải quyết vụ việc. Tuy nhiên, xét về bản chất pháp lý, thỏa thuận này là một bộ phận của điều khoản thù lao trong Hợp đồng dịch vụ pháp lý – một hợp đồng song vụ, được xác lập trên cơ sở đàm phán và thỏa thuận tự nguyện của cả hai bên.
Thông thường, điều khoản thù lao luật sư trong hợp đồng dịch vụ pháp lý có thể được cấu trúc theo các cách sau: (i) “Thù lao cố định” trả trước hoặc trong quá trình thực hiện công việc; (ii) “Thù lao không cố định”, được xác định theo tỷ lệ phần trăm hoặc giá trị cụ thể gắn với kết quả đạt được (thường được gọi là “Phí thành công”); hoặc (iii) kết hợp cả hai hình thức nêu trên. Dù được gọi bằng thuật ngữ nào, khoản “phí thành công” này chỉ phát sinh khi các điều kiện và kết quả đã được các bên xác định trước trong hợp đồng.
Thực tiễn cho thấy, việc thỏa thuận “phí thành công” đáp ứng nhu cầu chính đáng của đại đa số “dân nghèo” không có khả năng chi trả thù lao luật sư ngay từ đầu, nhưng vẫn cần sự hỗ trợ pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Trong những trường hợp này, luật sư chấp nhận chia sẻ rủi ro, làm không công nếu thua, đổi lại được hưởng thù lao cao hơn nếu thắng. Đây là bản chất thương mại lành mạnh, không phải là hành vi “vòi vĩnh” hay “xin cho” của cơ chế hứa thưởng. Mô hình này, thường được khái quát bằng nguyên lý “No Success, No Fee”, không chỉ tồn tại ở Việt Nam mà còn khá phổ biến tại nhiều quốc gia có nền luật pháp phát triển như: Anh, Mỹ, Úc và một số nước Châu Âu.[4]
2. Luật cấm Luật sư “Vòi vĩnh”, đừng nhầm với thỏa thuận “Phí thành công”
Quyết định GĐT số 271 chỉ sử dụng thuật ngữ “Hợp đồng Hứa thưởng” dễ dẫn đến cách hiểu rằng giữa luật sư và khách hàng không tồn tại hợp đồng dịch vụ pháp lý. Trong khi, Luật sư Lê Văn T – Trưởng Văn phòng L đã khẳng định với Báo Thanh Niên[5] hai bên có ký “Hợp đồng dịch vụ” nhưng được diễn giải thành “Hợp đồng Hứa thưởng” theo cách “nói nôm”. Để xác định Hứa thưởng – Phí thành công có vi phạm điều cấm của luật hay không, thì cần biết Luật cấm cái gì?
Thứ nhất, Điểm đ, Khoản 1 Điều 9 Luật Luật sư chỉ cấm luật sư “nhận” hoặc “đòi hỏi” thêm các khoản lợi ích “ngoài thù lao và chi phí” đã được thỏa thuận trong hợp đồng. Quy định này nhằm ngăn chặn hành vi lợi dụng vị thế nghề nghiệp để “vòi vĩnh” khách hàng chi thêm so với thỏa thuận ban đầu. Vì vậy, không thể hiểu hành vi “vòi vĩnh” thiếu đạo đức, với thỏa thuận phương thức tính “thù lao theo tỷ lệ %” được quy định rất rõ tại Điểm c khoản 1 Điều 55 Luật Luật sư[6]. Thỏa thuận đúng phương thức được minh định trong Luật Luật sư, nay lại bị một Quyết định giám đốc thẩm lấn sân và đè bẹp nếu trở thành Án lệ, trở thành đường lối xét xử chung trên toàn quốc, chặn đường tìm công lý của của người dân ngèo.
Thứ hai, Bộ Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam là bộ “Tiêu chuẩn hành nghề”, không phải “Luật”, không phải văn bản quy phạm pháp luật được ban hành theo những chuẩn mực về thẩm quyền, trình tự thủ tục được pháp luật quy định. Việc dùng một văn bản nội bộ của Hội nghề nghiệp để tuyên vô hiệu một giao dịch dân sự theo Bộ luật Dân sự, Luật Luật sư là sự áp dụng pháp luật thiếu thuyết phục, gây bất an cho sự ổn định của các giao dịch.
Mặt khác, Quy tắc 9.2 cũng chỉ cấm luật sư “gợi ý” hoặc “đặt điều kiện” hay còn gọi là “vòi vĩnh” như đã đề cập để khách hàng phải “chi thêm” tài sản hoặc lợi ích khác. Trong khi đó, thỏa thuận về phí thành công là sự thống nhất ý chí về thù lao – một yếu tố cơ bản của hợp đồng dịch vụ pháp lý – chứ không phải là việc tặng cho tài sản. Nếu thù lao được giải thích minh bạch, căn cứ tính toán rõ ràng, khách hàng hiểu và tự nguyện chấp nhận, thì không thể coi đây là hành vi vi phạm chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp.
3. Kết luận và kiến nghị
Từ góc độ pháp lý, việc đồng nhất thỏa thuận “phí thành công” trong hợp đồng dịch vụ pháp lý với chế định “hứa thưởng” theo Bộ luật Dân sự để tuyên giao dịch vô hiệu là cách tiếp cận còn nhiều điểm cần tiếp tục trao đổi. Phí thành công về bản chất là một phương thức xác định và hưởng thù lao luật sư có điều kiện, được các bên tự do thỏa thuận trong khuôn khổ một hợp đồng song vụ, chứ không phải là hành vi pháp lý đơn phương.
Luật Luật sư không cấm thỏa thuận thù lao trả sau theo kết quả, mà còn quy định Luật sư được phép tính thù lao theo tỷ lệ %. Cũng cần xác định rõ, Luật sư không được kinh doanh trên “kết quả” cam kết, nhưng Luật sư bán “sức lao động” được định giá bằng kết quả.
Án lệ cần sự chuẩn mực và phổ quát của một quy phạm pháp luật, nhằm điều chỉnh một nội dung mà pháp luật chưa quy định rõ. Việc vội vã nâng một “phán quyết” gây tranh cãi – nơi còn nhầm lẫn giữa “Hứa thưởng” và “Thù lao theo tỷ lệ %”, phân tích viện dẫn không chuẩn mực pháp lý – thành khuôn vàng thước ngọc sẽ tạo ra tiền lệ xấu. Tạo điều kiện cho Khách hàng lợi dụng “án lệ” để ‘bùng‘ phí luật sư sau khi đã thắng kiện
Do vậy, việc xem xét nâng Quyết định GĐT số 271 thành “án lệ” cần được cân nhắc thận trọng, với cách tiếp cận phân biệt rạch ròi giữa “hứa thưởng” theo pháp luật dân sự và “phí thành công” trong hợp đồng dịch vụ pháp lý, nhằm bảo đảm sự hài hòa giữa nguyên tắc tự do thỏa thuận, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp và yêu cầu ổn định trong áp dụng pháp luật.
Luật sư Nguyễn Văn Thái
Partner – BROSS & Partners
Bài viết thể hiện quan điểm cá nhân với kinh nghiệm của luật sư chuyên tư vấn, giải quyết tranh chấp các vụ án Dân sự, Kinh doanh thương mại. Mọi ý kiến trao đổi chuyên sâu hơn về chuyên môn, cũng như các nội dung có liên quan tới Bài viết, xin vui lòng liên hệ với tác giả theo thông tin: Luật sư Nguyễn Văn Thái – Công ty Luật TNHH BROSS và Cộng sự; Điện thoại 0977117237 – email: thai@bross.vn
[1] Link Quyết định GĐT số 271: Công bố bản án, quyết định của tòa án
[2] Điểm đ khoản 1 Điều 9 Luật Luật sư (năm 2006, sửa đổi, bổ sung các năm 2012 và 2015) quy định: “Nghiêm cấm luật sư nhận, đòi hỏi thêm bất kỳ khoản tiền, lợi ích nào khác từ khách hàng ngoài khoản thù lao và chi phí đã thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ pháp lý”.
[3] Quy tắc số 9 Bộ Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam quy định những việc luật sư không được làm trong quan hệ với khách hàng, trong đó khoản 9.2 cấm luật sư “Gợi ý, đặt điều kiện để khách hàng tặng cho tài sản hoặc lợi ích khác cho luật sư hoặc người thân của luật sư”.
[4] Một số dẫn chứng từ nguồn thông tin nước ngoài:
- Cambridge.org: Success Fee Agreements (Chapter 4) – Expenses
[5] Thanhnien.vn: Luật sư có được thỏa thuận hứa thưởng với khách hàng?
[6] Điểm c, Khoản 2 Điều 55 Luật Luật sư: Phương thức tính thù lao: “c) Vụ, việc với mức thù lao tính theo tỷ lệ phần trăm của giá ngạch vụ kiện hoặc giá trị hợp đồng, giá trị dự án;”
Để lại một bình luận