Cần nhìn nhận đúng hơn về Thông tư chống rửa tiền

01/11/2010
(Luật sư Lương Văn Trung  và Luật sư Hoàng Văn Dũng– Công ty Luật Bross & Partners – Bài viết được công bố trên các tờ báo và website khác nhau)

Trong thời gian gần đây, dư luận và một số phương tiện thông tin đại chúng thể hiện sự e ngại về tác động và cơ chế thực hiện của thông 148/2010/TT-BTC ngày 24/9/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện các biện pháp phòng, chống rửa tiền đối với lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán và trò chơi giải trí có thưởng (“Thông tư 148”). Chúng tôi cho rằng những e ngại này có phần cường điệu xuất phát từ việc nhận thức chưa đầy đủ và chính xác về bản chất của việc phòng, chồng rửa tiền và cách thức thực hiện công việc này. Bài viết này sẽ chủ yếu tập trung vào lĩnh vực đầu tư chứng khoán.

1. Tổng quan về vấn đề phòng, chống rửa tiền

Việc phòng chống rửa tiền và tài trợ cho khủng bố là một vấn đề được thế giới quan tâm từ rất lâu và nhiều quốc gia đã có các văn bản pháp luật, cơ chế cũng như nguồn lực đầy đủ để thực hiện công việc này. Tiên phong là Lực lượng đặc nhiệm tài chính về chống rửa tiền (FATF) với 34 thành viên là quốc gia và vùng lãnh thổ cùng 2 tổ chức khu vực. Việt Nam đã ban hành Nghị định 74/2005/NĐ-CP ngày 7/6/2005 về phòng, chống rửa tiền (“Nghị định 74”). Nghị định này có hiệu lực từ ngày 1/8/2005. Nghị định 74 quy định khá đầy đủ và chi tiết các vấn đề cơ bản của việc phòng chống rửa tiền theo kinh nghiệm và thực tiễn của các nước khác, đặc biệt là của FAFT. 

2. Một số vấn đề cơ bản của việc phòng, chống rửa tiền

(i) Thế nào là rửa tiền: rửa tiền được hiểu một cách đơn giản là việc che dấu và xóa bỏ nguồn gốc phi pháp của tiền (biến tiền “bẩn” thành tiền “sạch”). Việc rửa tiền được thực hiện thông qua các kênh giao dịch tài sản khác nhau. Việc rửa tiền thường trải qua ba bước cơ bản là:

(1) đầu tư phân tán (tiền được chia nhỏ ra và đưa vào hệ thống tài chính như nộp vào tài khoản giao dịch chứng khoán, mua chứng khoán chưa niêm yết sau đó lưu ký và chờ niêm yết để bán, gửi vào ngân hàng, mua lệnh chuyển tiền hoặc hối phiếu, mua bảo hiểm, v.v…);

(2) phân tán lòng vòng (tạo ra nhiều lớp giao dịch tài chính phức tạp nhằm che giấu nguồn gốc của những khoản tiền đó và làm cho việc lần ra dấu vết của những đồng tiên đó trở nên khó khăn hơn. Ví dụ thu gom cổ phiếu chưa niêm yết, chờ niêm yết để bán, chuyển tiền bán chứng khoán vào ngân hàng rồi chuyển qua đầu tư vào bất động sản, v.v…);

(3) hợp nhất (là khi các khoản tiền được phân tán đã trở nên “sạch” hay nguồn gốc đã phai mờ được tập trung lại để đưa vào nền kinh tế một cách công khai như là một khoản tiền “sạch”). Tóm lại, một đồng tiền “bẩn” càng được giao dịch nhiều lần qua các kênh giao dịch được coi là sạch thì đồng tiền đó càng trở nên “sạch” (tức là nguồn gốc phi pháp của nó càng mờ dần).

(ii) Các kênh rửa tiền: tiền được rửa qua nhiều kênh nhưng các kênh được sử dụng nhiều nhất là các định chế tài chính (ngân hàng, bảo hiểm, tổ chức tín dụng phi ngân hàng), công ty chứng khoán, kinh doanh bất động sản, luật sư đại diện giao dịch, v.v… theo Điều 6 của Nghị định 74. Phần lớn các kênh quan trọng nêu trên do Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính quản lý. Đó là lý do vì sao Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 22/2009/TT-NHNN ngày 17/11/2009 hướng dẫn thực hiện các biện pháp phòng chống rửa tiền áp dụng cho các đối tượng do Ngân hàng Nhà nước quản lý (tổ chức tín dụng, đại lý thu đổi ngoại tệ và tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán) (“Thông tư 22”).

Đến ngày 24/9/2010, Bộ Tài chính ban hành Thông tư 148 để hướng dẫn cho các đối tượng do mình quản lý về cùng một vấn đề. Vì thế, Thông tư 22 và Thông tư 148 có nội dung cơ bản như nhau, chỉ khác nhau về đối tượng điều chỉnh và một số yếu tố có tính đặc thù liên quan đến đối tượng điều chỉnh mà thôi (ví dụ giao dịch tiết kiệm, chuyển khoản thuộc về tổ chức tín dụng, đầu tư chứng khoán của công ty chứng khoán, đóng phí bảo hiểm của công ty bảo hiểm). Và trên hết, 2 Thông tư này đều thể hiện đầy đủ các nguyên tắc và nội dung chính của Nghị định 74. Vì lẽ đó, Thông tư 148 được ban hành không phải là một chính sách mới và có mục đích can thiệp vào hoạt động đầu tư chứng khoán mà chỉ là các hướng dẫn nghiệp vụ việc phòng, chống hành vi rửa tiền thông qua hoạt động đầu tư chứng khoán, bảo hiểm, chứng khoán và trò chơi giải trí có thưởng.

(iii) Mục đích của việc phòng, chống rửa tiền: là không để các đối tượng rửa tiền sử dụng các kênh nêu để rửa tiền.

(iv) Nguyên tắc cơ bản của phòng, chống rửa tiền:

(1) Hiểu rõ khách hàng (thông qua các thông tin nhận dạng chính về hộ tịch, nghề nghiệp, thu nhập);

(2) Cá nhân hay tổ chức tham gia giao dịch đầu tiên với khách hàng có trách nhiệm thu thập đầy đủ thông tin về khách hàng (ví dụ, công ty chứng khoán nơi mở tài khoản giao dịch chứng khoán và nhận tiền mặt của khách hàng nộp vào tài khoản);

(3) Báo cáo cho cơ quan quản lý khi có giao dịch tiền mặt lớn hoặc đáng ngờ;

(4) Không tiết lộ và cảnh báo khách hàng về việc giao dịch bị báo cáo hoặc bị nghi ngờ;

(5) Chính sách nội bộ và quy trình thực thi biện pháp phòng, chống rửa tiền tại doanh nghiệp, cơ sở dữ liệu khách hàng và giao dịch, gắn liền với việc đào tạo nhân viên thường xuyên để hiểu về chính sách, quy trình, các trường hợp và dấu hiệu của giao dịch đáng ngờ. 

3. Mức độ đáp ứng hiện tại của các công ty chứng khoán

(i) Về việc hiểu rõ khách hàng: Hầu hết các công ty chứng khoán đều có mẫu đề nghị mở tài khoản giao dịch chứng khoán yêu cầu khách hàng cung cấp đầy đủ các thông tin nhận dạng phù hợp với yêu cầu của Nghị định 74 và Thông tư 148 như: tên, ngày sinh, số chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu, nghề nghiệp, thu nhập trung bình. Đồng thời, khách hàng được yêu cầu cung cấp bản chính chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu (là 2 loại giấy tờ có giá trị pháp lý cao nhất và đáng tin cậy nhất về thông tin cá nhân) để đối chiếu. Như vậy, việc cần thiết phải làm là đảm bảo các khách hàng cung cấp đủ thông tin theo đúng mẫu.

(ii) Về theo dõi giao dịch của khách hàng: Các công ty chứng khoán đều có đầy đủ các biểu mẫu và hệ thống kế toán ghi nhận giao dịch. Thậm chí, nhiều công ty có hệ thống ghi nhận giao dịch tương đương với các ngân hàng về biểu mẫu, chế độ kế toán, hạ tầng công nghệ thông tin. Như vậy, việc cần thiết phải làm là xây dựng cơ chế lọc các giao dịch tiền mặt lớn và giao dịch tiền mặt nhiều lần liên tục có chủ ý để xấu và xây dựng báo cáo tự động có thể báo cáo kịp thời trong nội bộ và cho cơ quan quản lý. Ngoài ra, cần phải có hệ thống lưu trữ hồ sơ theo quy định của pháp luật. 

4. Báo cáo giao dịch có giá trị lớn phải báo cáo

Theo tác giả, Thông tư 148 quy định giao dịch lớn phải báo cáo là giao dịch tiền mặt trong ngày, tức sử dụng tiền mặt khi thanh toán tiền mua cổ phiếu giống như mua bán trao tay cổ phiếu OTC. Điều này có thể được hiểu là các giao dịch mua bán trên thị trường niêm yết sẽ không thuộc diện báo cáo. Điều này là hợp lý vì giao dịch trên thị trường niêm yết được cả công ty chứng khoán, sàn giao dịch chứng khoán và Trung tâm Lưu ký Chứng khoán ghi nhận chi tiết. Vì thế, cơ quan chức năng có thể sử dụng cơ sở dữ liệu của sàn giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm Lưu ký Chứng khoán cho mục đích phòng, chống rửa tiền.

Một lý do nữa cho thấy tại sao công ty chứng khoán không phải báo cáo các giao dịch chứng khoán niêm yết là công ty chứng khoán đã kiểm soát (và có thể đã báo cáo) khi khách hàng mở tài khoản và nộp tiền mặt vào tài khoản giao dịch chứng khoán rồi. Về kỹ thuật, việc mua bán chứng khoán niêm yết thông qua hệ thống thanh toán bù trừ trước khi khách hàng rút tiền mặt ra để dùng vào việc khác thì vẫn chỉ là một công đoạn trong quy trình rửa tiền (nếu đó là mục đích chính của việc kinh doanh chứng khoán) dù mua đi bán lại bao nhiêu mã chứng khoán trong thời gian bao lâu. Bởi lẽ, như đã mô tả ở phần trên, công ty chứng khoán chỉ là một kênh để rửa tiền và mua đi bán lại chứng khoán niêm yết chỉ là một lớp của giao dịch.

Sau một thời gian, người đó sẽ bán hết chứng khoán đã mua để thu tiền mặt và yêu cầu công ty chứng khoán hoặc ngân hàng xuất tiền mặt hoặc chuyển khoản đến một tài khoản nào đó với đầy đủ chứng từ chứng minh nguồn gốc là tiền từ đầu tư chứng khoán (và được suy đoán là tiền vốn đầu tư là tiền sạch khi được công ty chứng khoán hoặc ngân hàng chấp nhận). Vì lẽ đó, việc kiểm soát chính vẫn là thông tin về khách hàng khi mở tài khoản và phát hiện các dấu hiệu không bình thường khi chuyển tiền vào tài khoản đầu tư chứng khoán. 

5. Giao dịch đáng ngờ phải báo cáo

Theo hiểu biết và kinh nghiệm của người viết, các trường hợp được coi là giao dịch đáng ngờ quy định tại Khoản 1 Điều 10 Nghị định 74 và các Khoản 1, 2, 3, 4 Điều 9 Thông tư 148 được coi là các dấu hiệu của giao dịch đáng ngờ chứ không hoàn toàn chính xác là các trường hợp phải báo cáo. Đồng thời, đây cũng không phải là danh sách khép kín. Vấn đề đánh giá một giao dịch đáng ngờ phụ thuộc rất nhiều vào khả năng phân tích, đánh giá của nhân viên công ty chứng khoán khi tiếp nhận giao dịch. Đó là lý do vì sao mà FAFT thường xuyên cập nhật và chia sẻ các trường hợp giao dịch đáng ngờ. Bởi lẽ, những kẻ rửa tiền luôn tìm nhiều cách khác nhau để rửa tiền, và có thể sau khi kẻ đó bị bắt hoặc một giao dịch rửa tiền nào đó bị phát hiện thì cơ quan quản lý mới tổng kết và có thể bổ sung thêm được một dấu hiệu rửa tiền mới.

Đó là lý do tại sao Nghị định 74, Thông tư 22 và Thông tư 148 đều nhấn mạnh đến việc phải có cán bộ chuyên trách về phòng chống rửa tiền và thường xuyên đào tạo nhân viên về công việc này. Bởi lẽ, đây là công việc đòi hỏi kiến thức, kinh nghiệm và khả năng đánh giá tình huống.

6. Biện pháp tạm thời

Công ty chứng khoán được áp dụng Nghị định 74 quy định công ty chứng khoán chỉ có quyền từ chối thực hiện giao dịch trong trường hợp bên liên quan trong giao dịch nằm trong danh sách thống kê và cảnh báo do Bộ Công An lập ra (có nghĩa là được gửi đến và cập nhật cho công ty chứng khoán).

Theo nguyên tắc toàn dân tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung thì bất kỳ ai tham gia giao dịch với người đã nằm trong danh sách thống kê và cảnh báo của Bộ Công an cũng nên cảnh giác, đề phòng và thông báo cho cơ quan chức năng. Do vậy, yêu cầu này không quá nặng nề đối với công ty chứng khoán và cũng không phải là đáng lo ngại cho hầu hết các khách hàng. Khoản 2 Điều 11 của Thông tư 148 cũng quy định thêm các trường hợp mà công ty chứng khoán được quyền từ chối giao dịch. Các trường hợp này có thể sẽ không thường xuyên xảy ra nếu công ty chứng khoán và khách hàng thực sự muốn tránh (ví dụ, tài khoản vô danh, công ty chứng khoán không trực tiếp gặp và xác định thông tin khách hàng).

Đối với giao dịch chuyển tiền vào hoặc ra ngoài tài khoản theo mọi hình thức cho các mục đích nằm ngoài phạm vi hoạt động và cung ứng dịch vụ của công ty chứng khoán, quy định này là hợp lý vì công ty chứng khoán không được quyền và không nên thực hiện những công việc ngoài phạm vi hoạt động của mình. Chỉ có quy định có thể gây e ngại cho khách hàng là “có lý do để tin rằng giao dịch được yêu cầu có liên quan đến hoạt động phạm tội”. Tuy nhiên, trong trường hợp khách hàng mua bán cổ phiếu niêm yết, rất khó có cở sở để tin đây là hoạt động có liên quan đến hoạt động phạm tội. Trường hợp này có thể xảy ra khi tiền đầu tư chứng khoán được chuyển đến từ hoặc chuyển đến một cá nhân hay tổ chức tội phạm nào đó.

Các biện pháp khác như niêm phong tài sản, phong tỏa tài khoản, tạm giữ người vi phạm đều phải tiến hành theo quy định hiện hành của pháp luật theo các thủ tục chặt chẽ trong tố tụng hình sự, dân sự hoặc hành chính. Theo hiểu biết của người viết, công ty chứng khoán chưa bao giờ có thẩm quyền này trừ trường hợp phát hiện tội phạm quả tang (trong khi đó, rửa tiền không bao giờ là phạm tội quả tang tại một công đoạn cụ thể). 

7. Tổng kết

Do giới hạn về thời gian và số lượng chữ, người viết chỉ có thể đưa ra các điểm chính để có những kết luận sau đây:

(i) Thông tư 148 không phải là một bất ngờ về mặt chính sách và cũng không nên được coi là một biện pháp can thiệp vào thị trường chứng khoán. Đây chỉ là một hướng dẫn về mặt kỹ thuật để thực hiện Nghị định 74 đối với các chủ thể thuộc quyền quản lý của Bộ Tài chính. Thực tế, nhiều định chế tài chính có vốn đầu tư nước ngoài đã thực hiện rất đầy đủ và chặt chẽ yêu cầu này trước khi Nghị định 74 được ban hành;

(ii) Không nên cho rằng các công ty chứng khoán phải báo cáo các giao dịch mua bán chứng khoán trên thị trường niêm yết có giá trị 200 triệu trở lên trong một ngày;

(iii) Chỉ các giao dịch mua bán cổ phiếu trao tay và thanh toán bằng tiền mặt với giá trị 200 triệu đồng trở lên mới thuộc diện báo cáo;

(iv) Giao dịch đáng ngờ phụ thuộc nhiều vào khả năng phân tích và đánh giá tình huống của nhân viên xử lý giao dịch và nhân viên phụ trách phòng, chống rửa tiền. Nguyên tắc suy đoán hợp lý cần phải được áp dụng và tùy theo từng trường hợp cụ thể;

(v) Công ty chứng khoán chỉ có quyền từ chối thực hiện giao dịch trong một số trường hợp rất hạn chế. Đồng thời, những trường hợp từ chối này là cần thiết hoặc công ty chứng khoán hoặc khách hàng có thể tránh được một cách dễ dàng nếu tuân thủ đúng quy định hiện hành của pháp luật và yêu cầu cung cấp thông tin của công ty chứng khoán;

(vi) Thông tư 148 không tạo ra nhiều gánh nặng về chi phí và nguồn lực cho công ty chứng khoán. Điều quan trọng nhất mà công ty chứng khoán phải thực hiện là có cán bộ chuyên trách về phòng, chống rửa tiền, xây dựng quy trình nội bộ về công việc này và đào tạo cho toàn bộ nhân viên. Đồng thời, các công ty chứng khoán nên xây dựng hệ thống báo cáo tự động dựa trên hạ tầng công nghệ thông tin hiện có;

(vii) Các công ty chứng khoán phải tuyệt đối tuân thủ quy tắc không tiết lộ cho khách hàng về việc báo cáo giao dịch nhằm tránh khả năng giúp người rửa tiền có thể có cách trốn tránh hoặc gây hoang mang cho các khách hàng không có mục đích rửa tiền.

Để xem nội dung bài viết trên website www.baomoi.com, Quý khách vui lòng bấm vào đây 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *