“Đất công” Không Phải Là “Tấm Khiên” Pháp Lý Để Loại Trừ Thủ Tục Thu Hồi Đất Bắt Buộc

11/11/2025

Luật sư Lê Minh Quang – Công ty Luật TNHH BROSS & Cộng sự chỉ ra những điểm dễ nhầm lẫn liên quan đến thủ tục thu hồi đất bắt buộc. Đồng thời, gợi ý quy trình khiếu nại và tự bảo vệ quyền lợi đúng pháp luật, qua đó góp phần hạn chế các hành vi vi phạm trong bối cảnh cưỡng chế chưa phù hợp quy định.

Những năm gần đây, ở một số địa phương, mỗi khi triển khai hạ tầng phục vụ cộng đồng như đường nội bộ, công viên, kênh mương đến nhà văn hóa, chợ, sân thể thao … cụm từ “đất công” đôi khi được viện dẫn như lý do để yêu cầu người đang quản lý sử dụng đất tự tháo dỡ, giao trả mặt bằng, dù cơ sở pháp lý còn thiếu như chưa có quyết định thu hồi đất đúng thẩm quyền; chưa lập và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; chưa thông báo, cung cấp hồ sơ địa chính và mốc giới thể hiện trạng thái quản lý nhà nước. 

Cách tiếp cận này khiến trình tự pháp lý bắt buộc dễ bị bỏ sót và làm phát sinh xung đột không cần thiết giữa cơ quan nhà nước và người sử dụng đất. Bài viết này làm rõ khung pháp luật điều chỉnh, chỉ ra những điểm dễ nhầm lẫn, đồng thời gợi ý quy trình khiếu nại và tự bảo vệ quyền lợi đúng pháp luật, qua đó góp phần hạn chế các hành vi vi phạm trong bối cảnh cưỡng chế chưa phù hợp quy định (như chống người thi hành công vụ, gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích…).

Nhận Diện Khái Niệm “Đất công” Trong Pháp Luật Đất đai

Pháp luật hiện hành không có một định nghĩa duy nhất mang tên “đất công”. Đây là cách gọi hành chính để chỉ các nhóm đất thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện và thống nhất quản lý. Về thực chất, có hai nhóm thường được nhắc tới: đất sử dụng vào mục đích công cộng (giao thông, thủy lợi, sinh hoạt cộng đồng, khu vui chơi, chợ, năng lượng, bưu chính–viễn thông, bãi thải…) và đất phục vụ mục đích công vụ (quốc phòng, an ninh, trụ sở, công trình công quyền).

Cách nhận diện nêu trên dựa vào cấu trúc phân loại và mục đích sử dụng đất của Luật Đất đai 2024. Từ việc xác định đúng loại đất và mục đích sử dụng, cơ quan có thẩm quyền mới áp dụng đúng thẩm quyền, đúng hình thức văn bản và đúng trình tự thủ tục khi Nhà nước có nhu cầu sử dụng phần đất đang do tổ chức, cá nhân sử dụng ổn định. Đối với khu vực được phép sử dụng đa mục đích có yếu tố thương mại, dịch vụ, phần diện tích dùng để kinh doanh cũng phải tuân thủ cơ chế pháp lý tương ứng như giao hoặc cho thuê theo luật, đồng thời thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính.

Nguồn Gốc Nhầm Lẫn và Hệ Quả Sai Sót Thủ Tục

Từ thực tiễn, ba nhầm lẫn chính thường dẫn tới sai sót trong quy trình thu hồi đất gồm:

  • Nhầm lẫn thứ nhất: Đồng nhất việc “đất không có sổ đỏ[1]/không có người sử dụng hợp pháp” với “đất công” hay “đất công cộng” từ đó xác định không cần tuân thủ quy trình thu hồi đất. Tuy nhiên theo quy định pháp luật về đất đai thì quyền được bồi thường, hỗ trợ được xác định dựa trên tình trạng pháp lý của người sử dụng đất và hiện trạng sử dụng ổn định, không chỉ dựa vào việc đã có Giấy chứng nhận hay chưa. Nhiều trường hợp chưa có Giấy chứng nhận vẫn được xem xét bồi thường và bố trí tái định cư nếu đủ điều kiện hoặc thuộc trường hợp ngoại lệ theo quy định pháp luật, rồi mới ban hành quyết định thu hồi đất theo đúng trình tự.[2]
  • Nhầm lẫn thứ hai: Coi “mục đích công cộng” như lý do rút gọn/loại trừ thủ tục. Mục tiêu công cộng hay lợi ích cộng đồng chỉ là căn cứ để Nhà nước có quyền thu hồi đất. Nó không thay thế quy trình điều tra, đo đạc, kiểm đếm, không thay thế việc lập, lấy ý kiến, công khai và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và càng không thay thế quyết định thu hồi đất đúng thẩm quyền[3].
  • Nhầm lẫn thứ ba: Lạm dụng văn bản nội bộ thay cho quyết định hành chính cá biệt. Các văn bản như “kết luận họp”, “thông báo vận động”, “biên bản làm việc” không phải là căn cứ pháp lý buộc người sử dụng giao đất đang sử dụng cho Cơ quan nhà nước. Thu hồi hoặc cưỡng chế chỉ được thực hiện bằng quyết định hành chính hợp lệ, được ban hành, công bố/niêm yết và giao theo đúng trình tự, thẩm quyền luật định[4].

Trình Tự Thủ Tục Bắt Buộc Khi Thu Hồi Đất Đang  Người Sử Dụng

Theo Luật Đất đai 2024, chuỗi thủ tục phải được thực hiện đầy đủ và theo đúng thứ tự, bảo đảm tính công khai, minh bạch và quyền lợi của người có đất thu hồi:

1. Thông báo thu hồi: UBND có thẩm quyền báo trước tối thiểu 90 ngày (đất nông nghiệp) hoặc 180 ngày (đất phi nông nghiệp); gửi trực tiếp, họp phổ biến và niêm yết (Điều 87)

2. Điều tra, đo đạc, kiểm đếm: lập hồ sơ hiện trạng, nguồn gốc; không phối hợp thì ban hành quyết định kiểm đếm bắt buộc và có thể cưỡng chế kiểm đếm khi đủ điều kiện (Điều 88).

3. Phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư: lấy ý kiến, đối thoại khi còn ý kiến khác; thẩm định, phê duyệt, công khai và tổ chức chi trả/bố trí tái định cư (NĐ 88/2024/NĐ-CP).

4. Quyết định thu hồi đất: ban hành sau khi phê duyệt phương án và bố trí tái định cư (nếu cần); thiếu quyết định này thì yêu cầu giao mặt bằng/thi công/cưỡng chế là trái trình tự (Điều 89).

5. Chi trả bồi thường: thực hiện theo phương án; trường hợp không nhận thì gửi tiền vào tài khoản ngân hàng để bảo đảm quyền lợi và tiến độ (NĐ 88/2024/NĐ-CP).

6. Cưỡng chế thu hồi (nếu có): chỉ khi đã vận động, đối thoại mà không chấp hành; quyết định cưỡng chế hợp lệ, được niêm yết và giao nhận; thực hiện đúng điều kiện, hình thức, thủ tục của Luật Đất đai 2024 (Điều 88, 89).

Các Căn Cứ Thu Hồi Đất Theo Luật Đất đai 2024

Luật Đất đai 2024 quy định 4 nhóm căn cứ thu hồi đất: (1) vì quốc phòng, an ninh (Điều 78); (2) để phát triển kinh tế–xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng (Điều 79); (3) do vi phạm pháp luật đất đai (Điều 81); và (4) do chấm dứt việc sử dụng theo pháp luật, tự nguyện trả lại hoặc vì lý do an toàn, thiên tai, ô nhiễm nghiêm trọng (Điều 82).

Tuy nhiên, dù thuộc nhóm nào, nếu liên quan tới đất đang do tổ chức, cá nhân sử dụng, cơ quan có thẩm quyền bắt buộc phải tuân thủ đầy đủ trình tự thủ tục luật định. Mục đích thu hồi không phải “giấy miễn trừ thủ tục”, việc thu hồi đất vì lợi ích quốc gia, công cộng vẫn phải hoàn tất kiểm đếm và phương án bồi thường, tái định cư trước khi ra quyết định (Điều 79); việc thu hồi đất do vi phạm phải có căn cứ xử lý, bảo đảm quyền giải trình và vẫn xem xét bồi thường phần đủ điều kiện (Điều 81).

Con Đường Đúng Pháp Luật Để Ngăn Xung Đột và Bảo Vệ Quyền Lợi

Như vậy, có thể khẳng định việc viện dẫn lý do “đất công” không phải ngoại lệ để bỏ qua hoặc rút gọn thủ tục thu hồi đất khi trên đất đang có tổ chức, cá nhân quản lý, sử dụng, dù với bất kỳ lý do nào. Pháp luật quy định một chuỗi bước bắt buộc phải thực hiện đầy đủ và đúng thứ tự: thông báo thu hồi – điều tra, đo đạc, kiểm đếm hiện trạng – lập, công khai và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư – ban hành quyết định thu hồi đất – tổ chức thực hiện và chỉ cưỡng chế khi đủ điều kiện theo luật định.

Tuy nhiên, song song với nghĩa vụ tuân thủ trình tự pháp luật của Nhà nước, trong trường hợp xuất hiện dấu hiệu vi phạm về quy trình thu hồi, người sử dụng, quản lý đất có quyền lợi liên quan cũng không có quyền nghiễm nhiên thực hiện các biện pháp chống đối, ngăn chặn quá trình thực hiện công việc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền bằng hành vi bạo lực hoặc gây rối trật tự công cộng. Mọi hành vi dùng vũ lực, đe dọa hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ đều cấu thành hành vi vi phạm pháp luật và có thể bị xử lý hình sự theo quy định về Tội chống người thi hành công vụ hoặc các tội danh tương ứng.

Thay vào đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp, người sử dụng đất nên tuân thủ triệt để các biện pháp pháp lý:

1. Yêu cầu cung cấp hồ sơ pháp lý (bằng văn bản, có lưu chứng từ gửi/nhận). 

  • Đề nghị cơ quan có thẩm quyền cung cấp: Thông báo thu hồi đấtBiên bản điều tra, đo đạc, kiểm đếmPhương án bồi thường – hỗ trợ – tái định cư đã được thẩm định và phê duyệt (kèm danh mục tài sản, đơn giá, bố trí TĐC nếu có); Quyết định thu hồi đấtKế hoạch tổ chức thực hiện; nếu có cưỡng chế thì kèm Quyết định kiểm đếm bắt buộc/Quyết định cưỡng chế và Kế hoạch cưỡng chế;
  • Đồng thời đề nghị cung cấp hồ sơ địa chính/mốc giới, quy hoạch/kế hoạch sử dụng đất, và căn cứ xác định khu vực là công trình công cộng/đất do Nhà nước trực tiếp quản lý (nếu cơ quan viện dẫn “đất công”).

2. Tiến hành khiếu nại hành chính theo trình tự hai cấp.

  • Khiếu nại lần đầu tới cơ quan/ người đã ban hành quyết định/hành vi bị khiếu nại; nếu không đồng ý với kết quả giải quyết hoặc hết thời hạn mà không được giải quyết, thực hiện khiếu nại lần hai tới cấp trên trực tiếp theo luật định;
  • Hồ sơ nên kèm: bản sao giấy tờ nhân thân/đại diện, tài liệu chứng minh quá trình sử dụng đất, toàn bộ văn bản đã yêu cầu nhưng chưa được cung cấp/ cung cấp chưa đầy đủ, ý kiến/đề nghị cụ thể về nội dung cần hủy, sửa, tạm dừ.ng thi hành.

3. Khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án có thẩm quyền[5] để yêu cầu chấm dứt hành vi hành chính trái pháp luật/huỷ quyết định hành chính trái pháp luật  tạm dừng việc thi hành quyết định cho đến khi vụ án được giải quyết.

  • Cùng lúc nộp đơn khởi kiện, có thể đề nghị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (ví dụ: tạm dừng thi công, tạm đình chỉ cưỡng chế) nhằm bảo toàn hiện trạng đất và tài sản gắn liền với đất, ngăn ngừa tình trạng “sự đã rồi”;
  • Chuẩn bị trước các tài liệu cốt lõi: chứng cứ về quá trình sử dụng ổn định, biên bản làm việc, thư/đơn đã gửi cơ quan, phản hồi (nếu có), ảnh hiện trạng, nhân chứng, và mọi giấy tờ thể hiện chưa thực hiện đầy đủ trình tự (thiếu thông báo hợp lệ, thiếu phương án đã phê duyệt, thiếu quyết định thu hồi, v.v.).

Nếu bạn đang gặp vướng mắc trong các tình huống tranh chấp pháp lý tương tự hãy liên hệ với đội ngũ luật sư và chuyên gia pháp lý của BROSS & Partners để được tư vấn và xây dựng chiến lược xử lý toàn diện, từ đánh giá tính pháp lý của hồ sơ thu hồi, soát xét phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, đến soạn thảo đơn khiếu nại, khởi kiện và đại diện trong quá trình tố tụng hành chính nếu cần thiết.

Việc chủ động tìm hiểu, yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cung cấp hồ sơ và sử dụng đúng kênh pháp lý là cách an toàn nhất để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất, tránh những phản ứng cực đoan hoặc hành vi vi phạm pháp luật đáng tiếc trong quá trình thu hồi, cưỡng chế.

Lưu ý miễn trừ: Bài viết này chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin và bình luận pháp lý chung, không phải là ý kiến tư vấn pháp lý toàn diện cho bất kỳ trường hợp cụ thể nào. Quý độc giả nên tham khảo ý kiến của luật sư hoặc chuyên gia pháp lý có kinh nghiệm trong trường hợp phát sinh tranh chấp hoặc cần hướng dẫn chi tiết đối với vụ việc của mình.

Lê Minh Quang
Attorney at law

BROSS & PARTNERS 
Advocates & Solicitors | Patent, Trademark & Copyright

M: (+ 84) 98.995.1194 – Tel: (+824-4) 3555 3466 – E: quang.lm@bross.vn – W: www.bross.vn

21th Floor, Charm Vit Tower, No. 117 Tran Duy Hung Str., Yen Hoa, Hanoi, Vietnam 


[1] Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

[2] Xem thêm các điều về điều kiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trong Luật Đất đai 2024; Nghị định 88/2024/NĐ-CP quy định chi tiết nội dung, quy trình và mẫu quyết định phê duyệt phương án.

[3] Điều 87, Điều 89 Luật Đất đai 2024; chi tiết tại Nghị định 88/2024/NĐ-CP.

[4] nguyên tắc về hình thức, thẩm quyền và hiệu lực của quyết định hành chính trong Luật Đất đai 2024

[5] Khởi kiện vụ án hành chính khi và chỉ khi người khiếu nại đã không đạt được kết quả giải quyết mong muốn từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bao gồm cả không giải quyết, và/hoặc giải quyết không đạt được nguyện vọng chính đáng của người khiếu nại.

 

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *