GÓP Ý KIẾN VỀ NHỮNG KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC VÀ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN LUẬT LUẬT SƯ

30/05/2023

Nhận được đề xuất từ phía Ủy ban Xây dựng Pháp luật và Trợ giúp Pháp lý, Liên đoàn Luật sư Việt Nam về việc mời các Luật sư thành viên VBLC tham gia đóng góp ý kiến về những khó khăn, vướng mắc và đề xuất, kiến nghị trong quá trình thực hiện Luật Luật sư, trên tinh thần xây dựng Luật sư Hoàng Văn Dũng hành nghề tại Công ty Luật TNHH Bross và Cộng sự, là thành viên của Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội, đồng thời là thành viên của Câu lạc bộ Luật sư Thương mại Quốc tế Việt Nam (VBLC) có một vài ý kiến dưới đây[1] gửi tới Quý vị tham khảo trong quá trình đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Luật sư[2] trong thời gian tới.

1. Về phạm vi hành nghề luật sư (Điều 22 Luật Luật sư)

1.1 Đặt vấn đề: Cần bổ sung thêm tư cách ĐẠI DIỆN cho người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự và tư các NGƯỜI BẢO VỆ QUYỀN LỢI ÍCH HỢP PHÁP, NGƯỜI BÀO CHỮA cho các chủ thể mới trong tố tụng hình sự.

Thực trạng: Có ít nhất 04 chủ thể mới trong Bộ Luật Tố tụng Hình sự là đối tượng khách hàng của Luật sư nhưng chưa có quy định trong Luật Luật sư.

Cụ thể là, theo quy định tại Điều 22.1 Luật Luật sư thì hiện tại phạm vi hành nghề luật sư chỉ giới hạn trong (i) Tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc (ii) là người bảo vệ quyền lợi của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự. Nói cách khác, Luật sư hiện tại chỉ có thể cung cấp dịch vụ pháp lý cho 07 chủ thể liệt kê ở trên.

Do độ trễ về thời gian, quy định nêu trên đã tỏ ra lạc hậu và kém tương thích với quy định của Bộ Luật Tố tụng hình sự 2015 (“BLTTHS”) và các văn bản hướng dẫn, cũng như thực tiễn hoạt động tố tụng ở điểm sau:

(a) Về đối tượng khách hàng của Luật sư

BLTTHS quy định 04 chủ thể mới vốn/và đã là khách hàng của luật sư gồm (1) Người bị tố giác; (2) Người bị kiến nghị khởi tố; (3) Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; (4) Người bị bắt. Chủ thể số (1) và (2) có quyền “nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình” và chủ thể số (3), (4) có quyền “nhờ người bào chữa”. Những người được “nhờ” trong trường hợp này thường là Luật sư và trên thực tế, không ít các vụ việc Luật sư đã tham gia tố tụng với tư cách là người bảo vệ quyền lợi hợp pháp hoặc người bào chữa cho các chủ thể nêu trên thông qua việc đăng ký với Cơ quan Điều tra theo quy định Thông tư 46/2019/TT-BCA ngày 10/10/2019 của Bộ Công an[3] trước khi có quyết định khởi tố vụ án. Xin lưu ý rằng, việc xác minh tin báo, tố giác về tội phạm cũng là các hoạt động tố tụng hình sự nhưng chưa được phân ra thành “giai đoạn” tố tụng, và thường là trước khi có quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can hay còn gọi là “tiền tố tụng”. Trên thực tế, chúng tôi đã và đang tham gia vào nhiều vụ việc trong giai đoạn này với các tư cách khác nhau như đại diện cho đương sự, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ trên cơ sở quy định của Thông tư 46 trong khi vắng bóng quy định của Luật luật sư và các văn bản hướng dẫn Luật này.

Đề xuất: Như vậy, về phạm vi đối tượng “nhờ” Luật sư bào chữa, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cần ghi nhận tăng từ con số 07 lên 11; nói cách khác Luật Luật sư cần bổ sung thêm 04 chủ thể mới là (1) Người bị tố giác và (2) Người bị kiến nghị khởi tố để từ đó quy định thêm phạm vi hành nghề Luật sư là Người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho họ; và bổ sung (3) Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp và (4) Người bị bắt để từ đó quy định thêm phạm vi hành nghề Luật sư là Người bào chữa cho họ. Việc này giúp Luật Luật sư kịp thời ghi nhận và điều chỉnh các hoạt động thực tiễn đã và đang diễn ra trong tố tụng hình sự.

(b) Cũng về phạm vi hành nghề (với ý nghĩa là các dịch vụ pháp lý mà Luật sư có thể cung cấp cho khách hàng), theo Điều 22.1 Luật Luật sư chỉ có thể là người bảo vệ quyền lợi của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự, tuyệt nhiên không quy định phạm vi ĐẠI DIỆN cho họ. Nhưng trên thực tế, có nhiều Luật sư nhận đại diện cho các chủ thể này trong vụ án hình sự thông qua Hợp đồng dịch vụ pháp lý với khách hàng và đã được các cơ quan tiến hành tố tụng chấp thuận. Rõ ràng, quy định về phạm vi hành nghề luật sư như hiện nay tại Điều 22.1 Luật Luật sư đã trở lên lỗi thời và không theo sát thực tiễn tố tụng. Vì vậy, tôi đề xuất mở rộng phạm vi hành nghề luật sư, bao gồm cả ĐẠI DIỆN cho đương sự và người bị hại trong vụ án hình sự.

Hệ quả: Nếu không kịp thời điều chỉnh, tôi e rằng rất có thể Luật sư nào đó bị coi là vượt quá phạm vi hành nghề theo Luật Luật sư và có thể bị xử lý bằng hình thức kỷ luật tương ứng, trong khi hoạt động hành nghề của họ lại góp phần vào việc giải quyết vụ án được thuận lợi, đáp ứng đúng nhu cầu của khách hàng và phù hợp với pháp luật tố tụng hình sự. Xin lưu ý là theo quy định hết sức chung chung tại Điều 22.5 Luật Luật sư thì một phạm vi hành nghề luật sư được mở là “thực hiện dịch vụ pháp lý khác theo quy định của Luật này” nhưng rất tiếc, không có quy định nào chi tiết hơn, cả trong văn bản hướng dẫn nên Luật sư dễ rơi vào tình trạng vừa làm, vừa nghe ngóng.

1.2 Bổ sung phạm vi hành nghề Luật sư trong tố tụng hành chính để phù hợp với thực tiễn.

Như chúng ta đã biết, đương sự[4] trong tố tụng hành chính không có khái niệm Nguyên đơn và Bị đơn, mà thay vào đó là khái niệm NGƯỜI KHỞI KIỆN và NGƯỜI BỊ KIỆN. Tuy nhiên, Điều 22.2 Luật Luật sư[5] chỉ quy định luật sư tham gia tố tụng trong vụ án hành chính với tư cách là người đại diện hoặc là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan mà không đề cập đến hai chủ thể rất quan trọng trong tố tụng hành chính là Người khởi kiện và Người bị kiện. Trên thực tế, Luật sư vẫn tham gia tố tụng trong vụ án hành chính với tư cách là Người đại diện hoặc là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho 02 chủ thể nêu trên và Tòa án các cấp vẫn chấp nhận cho luật sư tham gia tố tụng “theo quy định của pháp luật về luật sư”[6]. Thực trạng này dẫn tới 02 hệ lụy tồi là (1) thiếu sự tương thích giữa các văn bản pháp luật và (2), vi phạm nguyên tắc bảo đảm tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật[7]. Ngoài ra, nó còn có thể tạo ra sự vận dụng tùy hứng bởi cơ quan tư pháp trong trường hợp họ căn cứ vào “quy định của pháp luật về luật sư” để từ chối Luật sư tham gia tố tụng trong vụ án hành chính với tư cách là người đại diện hoặc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho Người khởi kiện và Người bị kiện.

2. Về thù lao luật sư

Đặt vấn đề: Quy định về thù lao Luật sư trong Luật Luật sư thể hiện một số bất cập, đáng kể nhất là quy định khi Luật sư tham gia vụ án hình sự, mức thù lao không được vượt quá mức trần thù lao do Chính phủ quy định. Theo qua điểm của cá nhân tôi, nên loại bỏ quy định bất cập này vì những lý do sau:

Thực trạng: Theo Điều 56.1 Luật Luật sư thì mức thù lao theo thỏa thuận giữa khách hàng và Công ty luật, Văn phòng Luật sư nhưng không được vượt quá mức trần thù lao do Chính phủ quy định. Mức trần này được hướng dẫn tại Điều 18.1 Nghị định 123/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013 của Chính phủ[8], theo đó mức cao nhất cho mỗi giờ làm việc của Luật sư trong vụ án hình sự không được vượt quá 0,3 lần mức lương cơ sở do Chính phủ quy định. Mức lương cơ sở ở hiện tại theo quy định là 1.490.000 đồng, tính toán ra mức thù lao Luật sư tối đa không được vượt quá 447.000 đồng cho mỗi giờ làm việc. Chưa bàn tới yếu tố thu nhập, quy định nêu trên có nhiều bất cập như sau:

a. Hợp đồng dịch vụ pháp lý giữa Luật sư và khách hàng hoàn toàn là thỏa thuận dân sự thuần túy nên không thể giới hạn bằng khung giá trần do Chính phủ quy định như đối với các hàng hóa, dịch vụ thiết yếu mà cần phải tôn trọng quyền định đoạt của các bên tham gia giao dịch;

b. Dịch vụ pháp lý không thuộc đối tượng bị quản lý giá theo quy định của Luật Giá, càng không phải dịch vụ do Nhà nước phải định giá theo Điều 19 của Luật này[9]. Vì vậy, việc áp mức giá trần cho mỗi giờ làm việc của luật sư không vượt quá 0,3 lần mức lương cơ sở do Chính phủ quy định, tương ứng với 447.000 đồng là chưa phù hợp với Luật Giá do Quốc hội ban hành, và rõ ràng đây là hình thức định giá bằng cách áp giá tối đa cho dịch vụ không thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Giá;

c. Việc áp mức giá trần vốn là công cụ điều tiết giá của Nhà nước, và tôi chưa hiểu tại sao lại phải áp dụng cho thị trường dịch vụ pháp lý như trong quy định nêu trên?

d. Nếu lấy lý do cần bảo vệ quyền lợi của người yếu thế trong tố tụng hình sự thì rõ ràng không thuyết phục vì đã có cơ chế trợ giúp pháp lý miễn phí cho cá đối tượng này theo Luật trợ giúp pháp lý;

e. Trong khi đó, thị trường dịch vụ pháp lý đã hội nhập và rất cần phải tuân theo các quy luật của thị trường nói chung. Việc áp giá trần sẽ khiến các Luật sư giỏi kém mặn mà tham gia vào các vụ án hình sự khiến cho quyền lợi của khách hàng bị ảnh hưởng trước tiên và sau đó là kết quả của việc giải quyết vụ án có thể bị ảnh hưởng; việc này không những chẳng khuyến khích được các luật sư nhiệt tình tham gia vào việc giải quyết các vụ án hình sự mà còn khiến cho dịch vụ pháp lý trong tố tụng hình sự trở thành góc khuất kém chất lượng. Có một thực tế là các Luật sư phục vụ khách hàng truyền thống của họ, thường phải giúp thân chủ cả trong lĩnh vực tư vấn pháp luật, và đôi khi tham gia tố tụng, bất đắc dĩ là các vụ án hình sự; khi đó, hoặc là họ phải chuyển giao vụ việc cho Luật sư khác vì không tương thích với chuyên môn, phần vì không tương thích với khẩu vị thu phí dịch vụ bị áp giá trần trong vụ án hình sự; hoặc vẫn tiếp tục tham gia vụ án hình sự và thu phí theo tiêu chuẩn của tổ chức hành nghề nhưng lại phi tiêu chuẩn pháp lý theo Luật Luật sư. Tất nhiên là hành vi “xé rào” này không phải lúc nào cũng bị phát hiện nhưng rõ ràng đây là hành vi phạm pháp, và hậu quả của nó ẩn chứa đầy rủi ro. Vì vậy, vô hình chung đẩy Luật sư vào tình trạng kém trung thực hoặc tìm các lẩn tránh pháp luật bằng cách ghi tăng số giờ làm việc nhiều lên sao cho tương xứng với mức thù lao đáng ra mình được hưởng theo định giá chung của tổ chức hành nghề. Đây là những nhân tố làm méo mó thị trường dịch vụ pháp lý, mà đáng ra có thể loại bỏ hoàn toàn nếu không có những quy định pháp lý như chúng ta đang thảo luận.

f. Tạo ra sự chênh lệch về phí dịch vụ pháp lý một cách vô lý giữa các lĩnh vực hành nghề của Luật sư. Dễ hiểu hơn, chúng ta có thể hình dung rằng trong thị trường dịch vụ pháp lý, chỉ có duy nhất thù lao của Luật sư trong vụ án hình sự bị áp mức giá trần (với mức tối đa không vượt quá 447.000 đồng, tương đương với khoảng 20 USD cho 01 giờ làm việc) trong khi đó, thù lao ở các vụ án phi hình sự, thù lao của Luật sư tư vấn và dịch vụ pháp lý khác, hay trong lĩnh vực trọng tài thương mại… có thể được thỏa thuận với khách hàng ở mức gấp hàng chục lần, thậm chí hàng ngàn USD cho một giờ làm việc. Vì vậy, ở một góc nhìn hẹp, sẽ không là quá chủ quan khi tôi cho rằng, không ít Luật sư trong Câu lạc bộ Luật sư Thương mại Quốc tế Việt Nam (VBLC) dù thừa năng lực tham gia tố tụng hình sự nhưng có thể lại thiếu động lực giúp khách hàng, đặc biệt là các thương nhân nước ngoài khi họ vướng vào vòng lao lý trong lĩnh vực tố tụng hình sự tại Việt Nam.

g. Quy định hiện tại, chỉ buộc 02 loại hình tổ chức hành nghề Luật sư là Công ty luật và Văn phòng Luật sư phải tuân thủ mức trần thù lao còn hình thức hành nghề Luật sư cá nhân[10] lại bỏ ngỏ. Điều này dẫn tới cách hiểu là Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân (không trong bất kỳ tổ chức hành nghề Luật sư nào cả) thì không chịu sự điều chỉnh của quy định áp mức giá trần dịch vụ pháp lý. Dù là chủ ý của nhà lập pháp hay lỗi trong khâu xây dựng văn bản pháp luật thì đều có nguy cơ tạo ra sự bất bình đẳng trong hoạt động hành nghề Luật sư. Đây là một lý do nữa để tôi cho rằng không nên tồn tại giá trần trong lĩnh vực dịch vụ pháp lý.

Đề xuất: Loại bỏ quy định về mức thù lao Luật sư tham gia các vụ án hình sự không được vượt quá mức trần thù lao do Chính phủ quy định.

Trên đây là một số ý kiến theo quan điểm của cá nhân tôi, trong trường hợp khác biệt với ý kiến của Quý Vị, tôi rất mong được lượng thứ và cầu thị tiếp thu phản biện.

Trân trọng,

Luật sư Hoàng Văn Dũng

BROSS & PARTNERS

————————————————————————————————————————-

[1] Điều 107.1 “Công dân có quyền đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét …sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật”.

Điều 7.3 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật: “Cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền được đề nghị tham gia góp ý kiến về đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật chịu trách nhiệm về nội dung và thời hạn tham gia góp ý kiến”.

[2] Luật Luật sư được ban hành năm 2006 và được sửa đổi năm 2012, có hiệu lực từ ngày 01/7/2013

[3] Thông tư 46 quy định về trách nhiệm của lực lượng công an nhân dân trong việc thực hiện các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 liên quan đến bảo đảm quyền bào chữa của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc theo quyết định truy nã, người bị tạm giữ, bị can; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố. Văn bản này ở một góc độ nào đó đã đi trước quy định của Luật luật sư khi cho phép luật sư tham gia tố tụng ngay từ khi có Quyết định phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, và trước cả khi có quyết định khởi tố vụ án.

[4] ĐIều 3.7 Luật tố tụng hành chính: “Đương sự bao gồm người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”.

[5] ĐIều 22.2 Luật Luật sư: “Tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hoặc là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính, việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và các vụ, việc khác theo quy định của pháp luật”.

[6] Điều 61.2 Luật tố tụng hành chính

2. Những người sau đây được làm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự khi có yêu cầu của đương sự và được Tòa án làm thủ tục đăng ký người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự:

a) Luật sư tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật về luật sư.

[7] Điều 5.1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật: Nguyên tắc xây dựng, ban hành các văn bản pháp luật.

[8] “Mức thù lao luật sư tham gia tố tụng trong vụ án hình sự do khách hàng và văn phòng luật sư, công ty luật thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ pháp lý dựa trên các căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 55 của Luật luật sư và được tính theo giờ hoặc tính trọn gói theo vụ việc, nhưng mức cao nhất cho 01 giờ làm việc của luật sư không được vượt quá 0,3 lần mức lương cơ sở do Chính phủ quy định”.

[9] Điều 19. Hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá

 1. Nhà nước định giá đối với:

a) Hàng hóa, dịch vụ thuộc lĩnh vực độc quyền nhà nước sản xuất, kinh doanh;

b) Tài nguyên quan trọng;

c) Hàng dự trữ quốc gia; sản phẩm, dịch vụ công ích và dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước.

2. Các hình thức định giá:

a) Mức giá cụ thể;

b) Khung giá;

c) Mức giá tối đa, mức giá tối thiểu.

[10]


 

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *