Hướng dẫn Đăng ký Nhãn hiệu/Thương hiệu tại Thailand
Giới thiệu chung
Thailand, một quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á, một trong 10 thành viên thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á gọi tắt là ASEAN, là một trong các thị trường xuất khẩu quan trọng của các doanh nghiệp Việt Nam. Khác với Việt Nam, Thailand vẫn chưa gia nhập Thỏa ước Madrid và/hoặc Nghị định thư Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu vì vậy chỉ có một con đường duy nhất giành quyền độc quyền thương hiệu/nhãn hiệu ở Thailand là nộp đơn đăng ký quốc gia vào quốc gia này. Liên quan đến lĩnh vực sở hữu trí tuệ, Thailand là thành viên của các Công ước quốc tế khác sau:
- Công ước WIPO (WIPO Convention) gia nhập ngày 25/09/1989 có hiệu lực từ 25/12/1989
- Hiệp ước bảo hộ sáng chế (Patent Cooperation Treaty gọi tắt là PCT) tham gia ngày 24/09/2009 có hiệu lực từ 24/12/2009
- Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (Paris Convention) tham gia ngày 02/05/2008 có hiệu lực từ 02/08/2009
- Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học nghệ thuật khoa học (Berne Convention) tham gia ngày 17/06/1931 có hiệu lực từ 17/07/1931
Đạo luật hiện hành quy định về nhãn hiệu, tiêu chuẩn bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan đến nhãn hiệu ở Thailand là đạo luật nhãn hiệu số B.E.2543 (1991) được sửa đổi năm 2000
Điều kiện bảo hộ
Bất kỳ dấu hiệu nào dưới dạng chữ, từ ngữ, logo hoặc kết hợp giữa chúng có màu sắc hoặc đen trắng đều có khả năng bảo hộ với tư cách là nhãn hiệu tại Thailand miễn là chúng đáp ứng 3 điều kiện sau:
- Có chức năng phân biệt nguồn gốc thương mại; và
- Không thuộc đối tượng bị cấm đăng ký; và
- Không trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu của người khác đã nộp đơn hoặc đã đăng ký từ trước
Các dạng nhãn hiệu thông thường (hay còn gọi là nhãn hiệu truyền thống) được bảo hộ ở Thailand chẳng hạn như các ví dụ sau:
.png)
Ngoài ra các dạng nhãn hiệu đặc biệt khác (hay còn gọi là nhãn hiệu phi truyền thống) như nhãn hiệu 3 chiều, nhãn hiệu màu cũng có thể được chấp nhận được bảo hộ ở Thailand. Dưới đây là các ví dụ:

Các dạng nhãn hiệu phi truyền thống khác mà không nhìn thấy được như nhãn hiệu mùi (scent mark) và nhãn hiệu âm thanh (soud mark) gần đây được đưa vào một dự luật sửa đổi Luật nhãn hiệu của Thailand được phê duyệt bởi thượng viện Thailand tháng 2/2013 nhưng chưa được Quốc hội nước này thông qua.
Nguyên tắc nộp đơn đầu tiên (First-to-File)
Tương tự như Việt Nam, Thailand cũng là quốc gia áp dụng nguyên tắc chỉ cấp quyền độc quyền cho nhãn hiệu nào được nộp sớm nhất trong số các nhãn hiệu xin đăng ký. Và Thailand cũng cho phép người nộp đơn được xin hưởng ngày ưu tiên cho đơn ở Thailand dựa trên đơn đăng ký nhãn hiệu ở bất kỳ nước nào khác cũng là thành viên của Công ước Paris trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày nộp đơn đầu tiên
Tài liệu và thông tin cần thiết để nộp đơn đăng ký
- Tên, địa chỉ đầy đủ và quốc tịch của người nộp đơn;
- Mẫu nhãn hiệu yêu cầu bảo hộ;
- Danh mục sản phẩm/dịch vụ mang nhãn hiệu xin đăng ký theo Thỏa ước Nice lần thứ 10;
- Bản gốc Giấy ủy quyền cho một hãng luật của Thailand được công chứng và bản dịch tiếng Anh có chứng thực;
- Tài liệu ưu tiên và bản dịch tiếng Anh có chứng thực tài liệu xin hưởng quyền ưu tiên theo Công ước Paris (nếu có)
Trình tự xét nghiệm bảo hộ nhãn hiệu
Trong trường hợp không có phản đối bởi bên thứ 3 hoặc không có từ chối bởi Cơ quan nhãn hiệu Thailand, thời gian trung bình từ khi nộp đơn đến khi được cấp đăng ký bảo hộ nhãn hiệu ở Thailand là khoảng từ 12 đến 16 tháng. Cụ thể, việc xét nghiệm đơn đăng ký được trải qua 4 giai đoạn:
Nộp đơn
Cơ quan nhãn hiệu Thailand sẽ cấp số đơn và ngày nộp đơn ngay sau khi đơn được nộp ngay cả khi chỉ có bản sao giấy ủy quyền có công chứng được nộp. Bản gốc giấy ủy quyền được phép bổ sung trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày nộp đơn.
Xét nghiệm
Khác với Việt Nam khi mà việc xét nghiệm đơn đăng ký về mặt hình thức và về nội dung được tách biệt thành 2 giai đoạn khác nhau, Thailand gộp cả 2 thủ tục này trong cùng một giai đoạn xét nghiệm kéo dài 9-12 tháng. Đơn đăng ký nhãn hiệu sẽ được xét nghiệm để đánh giá liệu nó có tuân thủ các quy tắc về phân loại hàng hóa/dịch vụ, phí Chính phủ, giấy tờ bắt buộc và đặc biệt là sẽ được đánh giá liệu có đáp ứng 3 điều kiện bảo hộ đã nêu ở trên hay không
Công bố đơn được chấp nhận
Chỉ trong trường hợp đơn xin đăng ký được xem là đáp ứng cả 3 điều kiện đã nêu, Cơ quan nhãn hiệu Thailand mới cho phép đơn đăng ký được công bố trên công báo nhãn hiệu trong thời hạn 90 ngày để bên thứ 3 thực hiện quyền phản đối đơn đăng ký đó
Cấp đăng ký
Sau thời hạn 90 ngày nêu trên nếu không có bên thứ 3 phản đối thì Cơ quan nhãn hiệu Thailand sẽ ra thông báo cấp văn bằng bảo hộ và yêu cầu người nộp đơn nộp lệ phí cấp giấy chứng nhận trước khi Cơ quan này ban hành và chuyển bản gốc Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu cho người nộp đơn trong khoảng 60 ngày kể từ ngày nộp đủ lệ phí cấp.
Chi phí dự kiến
Thailand áp dụng cách tính phí khác đặc biệt, cụ thể lệ phí Chính phủ ở giai đoạn nộp đơn được áp dụng cho mỗi sản phẩm hàng hóa/dịch vụ là 500 baht (tương đương khoảng 15.5USD) và ở giai đoạn cấp đăng ký là 300 baht (tương đương khoảng 9.5USD). Tùy theo quy mô và danh tiếng của các hãng luật Thailand, chi phí luật sư đại diện khác nhau thường dao động từ 300-500USD/đơn nhãn hiệu.
Các khía cạnh đặc biệt cần lưu ý khi nộp đơn ở Thailand
- Thailand không chấp nhận nộp một đơn đăng ký cho nhiều nhóm sản phẩm. Thay vì thế mỗi nhóm sản phẩm gắn liền với một nhãn hiệu phải được nộp một đơn riêng (single-class application);
- Nên sử dụng dịch vụ tra cứu kỹ khả năng sử dụng và khả năng đăng ký của nhãn hiệu được thực hiện bởi một hãng luật có kinh nghiệm ở Thailand trước khi nộp đơn để tránh khả năng bị từ chối vì một trong 3 căn cứ từ chối đã nêu trên;
- Cần đặc biệt lưu ý luật hiện hành Thailand không có quy định cho phép gia hạn muộn trong vòng 6 tháng sau ngày đăng ký nhãn hiệu hết hạn như được chấp nhận bởi phần lớn các nước trên thế giới. Chỉ có thể tiến hành gia hạn hiệu lực của nhãn hiệu đã đăng ký trong vòng 90 ngày trước khi đăng ký nhãn hiệu đó hết hiệu lực 10 năm.
- Cần phải đưa nhãn hiệu đã đăng ký vào sử dụng trong thương mại để tránh nguy cơ nhãn hiệu có thể bị hủy bỏ hiệu lực bởi bên thứ 3 vì lý do 3 năm liên tục không sử dụng nhãn hiệu tính đến ngày đơn khiếu nại hủy bỏ được nộp.
Để lại một bình luận