IM LẶNG là quyền tự nhiên

26/09/2015
(Pháp luật Việt Nam, số chuyên đề 36 (114) 9-2015 ngày 25/09/2015 – Luật sư  Nguyễn Hồng Bách – Luật sư Thành viên, Công ty Luật Bross & Cộng sự)


“Quyền im lặng” được thảo luận nhiều trong thời gian gần đây, đặc biệt là gắn với việc thực hiện Hiến pháp năm 2013 cũng như góp ý sửa đổi Bộ Luật tố tụng hình sự. Nhiều ý kiến đưa ra xung quanh “quyền im lặng” của bị can, bị cáo, trong số đó nhiều người cho rằng cần quy định “quyền im lặng” trong Bộ luật TTHS. Vậy, quyền im lặng là gì và hệ thống pháp luật hiện hành đang quy định như thế nào về quyền này sẽ được Báo Pháp luật Viêt Nam làm rõ trong cuộc trao đổi với Luật sư Nguyễn Hồng Bách, Công ty Luật Bross và Cộng sự.

  • Trước tiên, thưa Luật sư, ông có thể cho biết những ý kiến gần đây xung quanh vấn đề “quyền im lặng” tập trung vào những vấn đề gì?

Các văn bản pháp luật hiện hành chưa có khái niệm về quyền im lặng nên hiện nay còn nhiều cách hiểu khác nhau về quyền này. Qua theo dõi các ý kiến trên một số diễn đàn góp ý xây dựng và thực thi pháp luật, tôi thấy các ý kiến về quyền im lặng tập trung vào hai khía cạnh. Thứ nhất, bị can, bị cáo có quyền im lặng. Và, thứ hai là cần thiết phải quy định quyền im lặng trong Bộ luật tố tụng hình sự để công nhận quyền im lặng của bị can, bị cáo.

  • Như vậy, các ý kiến trên là khá đầy đủ, phản ánh quan điểm và yêu cầu của người dân đối với việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật. Ông có đồng tình với các ý kiến trên hay không?

Tôi cho rằng, các ý kiến nêu trên về nguyên tắc là không sai nhưng cũng chưa hẳn đã toàn diện. Vì, cách hiểu đúng nhất về quyền im lặng là từ chối trả lời câu hỏi nếu việc trả lời câu hỏi đó có thể tự buộc tội người trả lời. Theo quan điểm của tôi, quyền im lặng là một quyền tự nhiên của con người. Quyền này gắn liền với mỗi con người kể từ khi cá thể đó được sinh ra, không phải là “quyền” do nhà nước ban phát. Điều đó có nghĩa là, bất cứ cá nhân nào đều tự quyết về những gì họ sẽ nói mà không ai có thể bắt ép họ nói, cho dù trong hoàn cảnh sống bình thường hay trong vai trò là bị can, bị cáo của một vụ án. Nhà nước phải bảo vệ quyền này chứ không phải là cho bị can, bị cáo quyền này.

Đối với bị can, bị cáo thì việc họ nói hay im lặng cũng do họ quyết định. Điều này dựa trên những nguyên tắc căn bản là pháp luật tố tụng tôn trọng và bảo vệ quyền con người. Do vậy, khi đã là quyền tự nhiên thì hiển nhiên mỗi cá nhân đều có quyền đó. Như vậy, việc đòi hỏi phải quy định “quyền im lặng” trong các văn bản pháp luật có lẽ là thừa.

Không những vậy, việc quy định quyền im lặng trong văn bản pháp luật vô hình chung lại dẫn đến một hệ quả không tốt nữa là coi quyền im lặng là quyền do nhà nước ban phát, không phải là quyền tự nhiên của con người. Do vậy, tôi cho rằng không cần thiết phải quy định quyền im lặng trong văn bản pháp luật.
Tuy nhiên, nhất thiết phải quy định cơ chế bảo vệ quyền im lặng trong các văn bản pháp luật, từ Bộ luật tố tụng hình sự đến các văn bản dưới luật, hướng dẫn nghiệp vụ hay hướng dẫn áp dụng pháp luật.

  • Ông có thể giải thích tại sao không cần quy định “quyền im lặng” nhưng phải quy định cơ chế bảo vệ quyền im lặng” trong các văn bản quy pháp pháp luật hay không?

Do quyền im lặng là quyền tự nhiên của con người và nhà nước có trách nhiệm bảo vệ quyền tự nhiên ấy. Nhưng bảo vệ quyền tự nhiên ấy trước điều gì? Đó là bảo vệ quyền tự nhiên ấy trước sự lạm quyền của chính lực lượng điều tra viên, kiểm sát viên và thẩm phán. Vì, các công chức này có khuynh hướng xâm phạm quyền im lặng của bị can, bị cáo và cả người bị tình nghi.

Hiện nay, từ Hiến pháp cho đến Bộ luật tố tụng hình sự đã có quy định các nguyên tắc cơ bản liên quan đến quyền im lặng của bị can, bị cáo nhưng chỉ thiếu cơ chế để bảo vệ quyền im lặng mà thôi. Cụ thể, Bộ luật tố tụng hình sự quy định bị can, bị cáo có quyền “được” trình bày lời khai. Như vậy, khai báo là quyền chứ không phải là nghĩa vụ đối với mỗi bị can, bị cáo. Với quy định này thì bị can, bị cáo muốn khai báo thì khai mà không muốn khai báo (im lặng) thì không ai có quyền ép và cũng không bị truy cứu trách nhiệm, không làm tăng nặng trách nhiệm hình sự về tội phạm (nếu có) đã phạm phải.

Nhưng hiện nay đang tồn tại phổ biến việc những người tiến hành tố tụng, đặc biệt là điều tra viên xâm phạm quyền khai báo (bao gồm cả im lặng) của bị can, bị cáo. Họ tìm mọi cách từ mớn cung, ép cung đến dụ cung để bị can, bị cáo phải khai báo, khai nhận sự việc, thậm chí là khai theo ý điều tra viên (vụ ông Nguyễn Thanh Chấn, vụ 7 thanh niên ở Sóc Trăng bị bắt, truy tố oan về tội giết người là ví dụ). Những hành vi xâm phạm quyền im lặng vẫn có khuynh hướng diễn ra khi điều tra viên mong muốn hoàn thành nhiệm vụ nên thường tìm mọi cách để lấy lời khai của bị can, người bị tình nghi. Do dó, tôi cho rằng cần phải có cơ chế bảo vệ quyền im lặng của bị can, bị cáo là như vậy.

  •  Vậy theo ông, những cơ chế nào có thể bảo vệ được quyền im lặng của bị can và rộng hơn là những người bị bắt giữ?

Thứ nhất, tôi cho rằng, người bị bắt nói chung phải hiểu được quyền của họ trong việc khai báo và phải được giải thích rõ ràng, đầy đủ. Điều tra viên và cả Hội đồng xét xử cần phải giải thích về quyền khai báo một cách cặn kẽ, trong đó có cả quyền được giữ im lặng, không khai báo về những nội dung chống lại chính người khai. Điều này phải được quy định rõ trong Bộ luật tố tụng, đặc biệt là khi lấy lời khai của bị can, bị cáo.

Thực tế thì hiện nay điều tra viên không giải thích đầy đủ về quyền này. Thậm chí còn cố tình giải thích việc khai báo là “nghĩa vụ” của bị can, người bị tình nghi. Ngoài ra, điều tra viên còn sử dụng nhiều thủ thuật khác để xâm phạm quyền này của bị can, như hình thức dụ cung (hứa hẹn quyền lợi để bị can khai báo, như hứa hẹn không tạm giam), mớm cung (dẫn dắt sự việc sau đó yêu cầu bị can thừa nhận nội dung điều tra viên nói là đúng, ký biên bản ghi lời khai). Những cách làm này được coi là kỹ năng điều tra của điều tra viên nhưng nó xâm phạm quyền của bị can, người bị tình nghi.

Thứ hai, có cơ chế giám sát để điều tra viên không được thực hiện các biện pháp nghiệp vụ điều tra xâm phạm quyền khai báo của bị can. Hiện nay, một số trại tạm giam có cử cán bộ giám sát quá trình lấy lời khai của điều tra viên cũng hạn chế được những việc điều tra viên mớm cung, dụ cung. Việc có sự tham gia của luật sư và Kiểm sát viên mang tính bắt buộc cũng sẽ loại trừ được tình trạng này. Theo tôi, trong một số trường hợp cụ thể, thì việc tham gia hỏi cung của kiểm sát viên nên quy định bắt buộc như những vụ án mà chứng cứ buộc tội chỉ là lời khai, chứng cứ truy xét hay những vụ án mà người bị bắt có thể bị kết án ở mức án cao hoặc những vụ án mà bị can hoặc thân nhân của họ có kiến nghị giám sát điều tra.

Sẽ còn nhiều cơ chế khác để bảo vệ quyền im lặng của bị can, bị cáo nhưng tôi cho rằng, các cơ chế trên là thiết thực, hiệu quả nhất mà thực tế hiện nay chưa thực hiện được hoặc thực hiện kém hiệu quả do quy định của Bộ luật tố tụng về điều này chưa rõ ràng.

  • Câu hỏi cuối cùng, xin ông cho biết quyền im lặng và quyền bào chữa có mối liên hệ gì với nhau không?

Tôi cho rằng, hai quyền này có liên hệ mật thiết, hữu cơ với nhau và có cùng một nguồn gốc, đó là quyền tự vệ. Mọi sinh vật trong tự nhiên đều có bản năng tự vệ và quyền được tự vệ, bảo vệ quyền sống và sự sinh tồn của mình. Do đó, trước sự tấn công về pháp lý (khởi tố, truy tố), mỗi cá nhân đều có quyền tự vệ pháp lý để bảo vệ quyền sống, quyền tự do và các quyền chính trị của mình. Để thực hiện quyền tự vệ, điều đầu tiên là họ không có nghĩa vụ chống lại mình, buộc tội mình. Do đó, đối với cáclời khai có nội dung chống lại họ thì họ có quyền không khai, đó là sự tự vệ.

Bào chữa là nấc thang thứ hai của quyền tự vệ. Lúc này, người bị truy tố có quyền đưa ra bằng chứng (nhân chứng, vật chứng) và lý lẽ (căn cứ) để chứng minh việc buộc tội là không có căn cứ. Do đó, nhà nước bảo vệ quyền im lặng của công dân chính là bảo vệ quyền con người, quyền tự do và sinh tồn tự nhiên của mỗi cá nhân chúng ta.

Xin cảm ơn ông!

(Xuân Bính thực hiện)

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *