Khái lược về Bảo hộ Nhãn hiệu Nổi tiếng ở Việt Nam

28/02/2015
Không có danh sách các nhãn hiệu nổi tiếng cũng như không có bộ quy tắc xác định liệu một nhãn hiệu có được coi là nổi tiếng hay không vô hình chung đã trao cho các thẩm định viên Việt Nam quyền tự do quyết định quá rộng.


Việt Nam đã chứng tỏ cam kết của mình trong việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý liên quan đến bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng. Việc bảo hộ này gồm cả việc ngăn chặn hành vi đăng ký lẫn hành vi sử dụng nhãn hiệu ngay cả khi hàng hóa/dịch vụ không tương tự với hàng hóa/dịch vụ gắn liền nhãn hiệu nổi tiếng.


Khởi nguyên bảo hộ Nhãn hiệu nổi tiếng


Thiếu chế định bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng trong đầu những năm 1990 đã tạo vô số cơ hội cho các chủ thể tiến hành đăng ký bảo hộ các nhãn hiệu nổi tiếng thế giới ở Việt Nam. Điển hình như trường hợp Công ty cổ phần Thủy Tạ Ophix (một công ty liên doanh được thành lập giữa nhà hàng Thủy Tạ, một doanh nghiệp Việt Nam, và Ophix Finance International Pty Ltd, một công ty tư nhân Úc) đã đăng ký thành công các nhãn hiệu nổi tiếng thế giới như KFC, Aussie TUCKER, Mister Donut, Sizzler và PIZZA HUT mà không hề gặp bất kỳ trở ngại nào.


Bất luận thiếu khuôn khổ pháp lý ngăn cản việc đăng ký và sử dụng nhãn hiệu nổi tiếng và bất kể thực tế là các nhãn hiệu nổi tiếng này không đăng ký cũng như không sử dụng ở Việt Nam vào thời gian đó song Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam (trước đây là Cục Sáng chế sau đó đổi tên thành Cục Sở hữu công nghiệp vào tháng 5/1993 trước khi có tên thành như hiện nay) vẫn chủ động từ chối đơn đăng ký nhãn hiệu McDONALD nộp bởi Công ty cổ phần Thủy Tạ Ophix. Ngoài ra, năm 1998 Cục Sở hữu trí tuệ cũng đã từ chối đơn đăng ký nhãn hiệu MILIKET cho các sản phẩm vở học sinh nhóm 16 vì cho rằng nhãn hiệu này bị coi là có khả năng tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu MILIKET của một doanh nghiệp nhà nước vốn chỉ được đăng ký cho sản phẩm mì ăn liền ở nhóm 30. Tại Thông báo từ chối, Cục Sở hữu trí tuệ cho rằng nhãn hiệu MILIKET đã được sử dụng và được công nhận rộng rãi bởi người tiêu dùng Việt Nam nên nó có thể gây nhầm lẫn về nguồn gốc thương mại ngay cả khi hàng hoá mang các nhãn hiệu rất khác xa nhau.


Mãi đến năm 2001, khái niệm "nhãn hiệu nổi tiếng" mới lần đầu tiên được đề cập trong Nghị định 06/2001/NĐ-CPsửa đổi Nghị định 63/1996/NĐ-CP. Văn bản này quy định “nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu đã được sử dụng liên tục cho sản phẩm, có uy tín khiến cho nhãn hiệu đó được biết đến rộng rãi”. Nghị định này cũng đề cập một loại nhãn hiệu khác gọi là "nhãn hiệu được sử dụng và được công nhận rộng rãi", mà cũng được coi là nằm trong nội hàm của khái niệm "nhãn hiệu nổi tiếng". Cũng theo Nghị định một nhãn hiệu yêu cầu đăng ký có thể bị từ chối nếu nó trùng hoặc gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác được coi là "nổi tiếng" (theo Điều 6 của Công ước Paris) hoặc với nhãn hiệu đã được sử dụng và được công nhận rộng rãi. Tuy nhiên, việc bảo hộ theo quy định tại Điều 8.3 của Nghị định 06/2001/NĐ-CP chỉ phát sinh trên cơ sở các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc công nhận nhãn hiệu nổi tiếng.


Các cụm từ "sử dụng liên tục", "sản phẩm, dịch vụ có uy tín" "được sử dụng và được công nhận rộng rãi" cấu thành khái niệm “nhãn hiệu nổi tiếng” đã từng bị chỉ trích là mơ hồ và thiếu khái quát vì chúng không miêu tả được chính xác bản chất của nhãn hiệu nổi tiếng.


Hơn nữa, do không có bộ quy chuẩn hoặc hướng dẫn cụ thể nào được ban hành để xác định cái gì cấu thành "được sử dụng và được công nhận rộng rãi”, “sử dụng liên tục" hoặc "sản phẩm, dịch vụ có uy tín" đã dẫn đến hệ quả là điều khoản này hầu như không thể thực thi. Vì lý do này, khi Nghị định 06/2001/NĐ-CP có hiệu lực, Cục Sở hữu trí tuệ trên thực tế đã không ban hành bất kỳ quyết định nào về công nhận nhãn hiệu nổi tiếng bất chấp thực tế đã nhận được hàng tá các yêu cầu đăng ký và công nhận nhãn hiệu nổi tiếng được nộp bởi nhiều doanh nghiệp lớn của Việt Nam.


Bảo hộ Nhãn hiệu nổi tiếng theo Luật SHTT 2005


Điều 6bis Công ước Paris và Điều 16 của Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs) không có quy định về việc phân biệt giữa các khái niệm nhãn hiệu nổi tiếng, nhãn hiệu được sử dụng và được công nhận rộng rãi hay nhãn hiệu có danh tiếng. Những thuật ngữ này được sử dụng mang tính chất thay thế nhau bởi các học giả hoặc bởi pháp luật các nước khác nhau trên thế giới. 


Luật SHTT 2005, đạo luật toàn diện lần đầu tiên của Việt Nam về sở hữu trí tuệ, quy định "nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam". Việc quy định "được biết đến rộng rãi bởi người tiêu dùng trên toàn lãnh thổ Việt Nam" (Điều 4.20) bị coi là hẹp hơn so với nội dung tương ứng trong Hiệp định TRIPs theo đó tuyên bố "để xác định một nhãn hiệu hàng hoá có nổi tiếng hay không, phải xem xét danh tiếng của nhãn hiệu hàng hoá đó trong bộ phận công chúng có liên quan, kể cả danh tiếng tại nước Thành viên tương ứng đạt được nhờ hoạt động quảng cáo nhãn hiệu đó." 


Vì hầu hết người tiêu dùng ở Việt Nam là người Việt nên một trong những điều kiện tiên quyết để được công nhận là một nhãn hiệu nổi tiếng tại Việt Nam là các sản phẩm hoặc dịch vụ mang nhãn hiệu đó phải được biết đến rộng rãi tại Việt Nam. Nói cách khác, nếu một nhãn hiệu không được biết đến rộng rãi bởi người tiêu dùng Việt Nam, nó có thể không được công nhận là nhãn hiệu nổi tiếng theo pháp luật của Việt Nam, ngay cả khi nó nổi tiếng ở nước ngoài.


Điều này khác hẳn với định nghĩa mơ hồ trong các quy định trước đây về nhãn hiệu nổi tiếng. Điều 75 của Luật SHTT – vốn dựa trên khuyến nghị chung về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng được xây dựng bởi Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) – đưa ra tám (08) tiêu chí để xác định liệu một nhãn hiệu có nổi tiếng hay không gồm:
  • số lượng người tiêu dùng liên quan đã biết đến nhãn hiệu thông qua việc mua bán, sử dụng hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu, hoặc thông qua quảng cáo;
  • phạm vi lãnh thổ mà hàng hàng hóa hoặc dịch vụ mang nhãn hiệu được lưu hành; 
  • doanh số từ việc bán hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc số lượng hàng hoá đã được bán ra, lượng dịch vụ được cung cấp;
  • thời gian sử dụng liên tục nhãn hiệu;
  • uy tín rộng rãi của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu;
  • số lượng quốc gia bảo hộ nhãn hiệu;
  • số lượng quốc gia công nhận nhãn hiệu là nổi tiếng; và
  • giá chuyển nhượng, giá chuyển giao quyền sử dụng, giá trị góp vốn đầu tư của của nhãn hiệu.
Nhưng cũng đáng ngạc nhiên là tiêu chí đầu tiên để thẩm định liệu một nhãn hiệu có được coi là nổi tiếng hay không lại khác xa đáng kể so với định nghĩa nêu trong Điều 4.2 Luật SHTT 2005 vì nó không còn xác định liệu người tiêu dùng liên quan phải là người nước ngoài hay người Việt Nam.


Phân loại nhãn hiệu nổi tiếng


Khác với Công ước Paris và Hiệp định TRIPs khi mà không phân biệt hay phân loại các nhãn hiệu nổi tiếng, nhãn hiệu được sử dụng và được công nhận rộng rãi hoặc nhãn hiệu có danh tiếng, pháp luật Việt Nam có vẻ như đã rất cố gắng phân loại thành ba loại nhãn hiệu nổi tiếng, dựa trên mức độ công nhận khác nhau bởi người tiêu dùng.


“Nhãn hiệu nổi tiếng ở mức cao nhất là nhãn hiệu được công nhận trên toàn thế giới" (Famous mark). Dạng nhãn hiệu này có thể được công bố hàng năm trong bản danh sách các thương hiệu tốt nhất toàn cầu được xếp hạng bởi các công ty thẩm định thương hiệu hàng đầu thế giới như Interbrand hoặc Forbes. Ngay cả khi các nhãn hiệu này không đăng ký hoặc không được sử dụng tại Việt Nam thì Cục Sở hữu trí tuệ chắc chắn sẽ chủ động từ chối yêu cầu đăng ký nhãn hiệu đó bởi bên thứ ba bất kỳ. Từ chối nhãn hiệu McDONALD nêu ở phần trên là một ví dụ điển hình của nhãn hiệu nổi tiếng ở mức cao nhất.


“Nhãn hiệu nổi tiếng ở mức được công nhận trên toàn lãnh thổ Việt Nam” (Well-known mark). Cục Sở hữu trí tuệ thông thường cũng có thể sẽ từ chối bất kỳ đơn đăng ký nhãn hiệu nào trùng hoặc gây nhầm lẫn với loại nhãn hiệu này, kể cả khi hàng hoá/dịch vụ mang nhãn hiệu yêu cầu bảo hộ không tương tự với hàng hóa/dịch vụ mang loại nhãn hiệu này. Nhãn hiệu MILIKET nêu ở phần trên đây được xếp vào dạng nhãn hiệu nổi tiếng này.


“Nhãn hiệu được sử dụng và được công nhận rộng rãi” (widely-used and recognized mark) là nhãn hiệu có mức độ công nhận thấp nhất trong bậc thang các loại nhãn hiệu nổi tiếng như tinh thần của Điều 74.2.g Luật SHTT. 


Bảo hộ đặc biệt đối với 3 loại nhãn hiệu nổi tiếng nêu trên được luật hóa là để ngăn chặn các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, bao gồm cả hoạt động thương mại với dụng ý xấu (bad faith). 


Việc bảo hộ các dạng nhãn hiệu nổi tiếng kể trên chỉ nhằm ngăn chặn các bên thứ ba tiến hành đăng ký. Trường hợp nhãn hiệu đó được bên thứ ba sử dụng trong thương mại thì vì lý do nghĩa vụ chứng cứ nên thông thường là rất khó cho chủ sở hữu các nhãn hiệu đó tiến hành yêu cầu xử lý hành vi sử dụng đó bằng các biện pháp hình sự, hành chính hoặc dân sự


Kể từ khi quyền độc quyền đối với nhãn hiệu nổi tiếng được xác lập trên cơ sở danh tiếng của nhãn hiệu, các chủ sở hữu nhãn hiệu phải chứng minh mức độ nổi tiếng mà nhãn hiệu đó có và uy tín thương mại gắn liền với chúng như thế nào. Điều 129 của Luật SHTT quy định rằng các hành vi sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng, hoặc dấu hiệu dưới dạng dịch nghĩa hoặc phiên âm từ nhãn hiệu nổi tiếng cho hàng hoá hoặc dịch vụ bất kỳ, kể cả hàng hóa, dịch vụ không trùng, không tương tự và không liên quan tới hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa hoặc gây ấn tượng sai lệch về mối quan hệ giữa người sử dụng dấu hiệu đó với chủ sở hữu nhãn hiệu nhãn hiệu nổi tiếng phải bị xem là hành vi xâm phạm nhãn hiệu nổi tiếng.


Gần đây trong vụ kiện giữa Interbrand Group và Interbrand JSC, Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của Interbrand Group – một tập đoàn của Anh Quốc – yêu cầu ngăn chặn một Công ty Việt Nam là Interbrand JSC sử dụng tên viết tắt "Interbrand" trong giấy phép đăng ký kinh doanh của mình. Tòa án cũng chỉ ra rằng bị đơn đã từng nộp đơn đăng ký nhãn hiệu Interbrand năm 2006, nhưng bị phản đối bởi Interbrand Group năm 2007 trên cơ sở xung đột với nhãn hiệu nổi tiếng của họ. Đơn đăng ký nhãn hiệu này sau đó đã bị Cục Sở hữu trí tuệ từ chối bảo hộ năm 2009 do có khả năng gây nhầm lẫn giữa nhãn hiệu xin đăng ký với nhãn hiệu nổi tiếng chưa đăng ký Interbrand.


Kết luận


Thiếu danh sách các nhãn hiệu nổi tiếng và bộ quy chuẩn xét nghiệm một nhãn hiệu liệu có phải là nhãn hiệu nổi tiếng hay không đã vô tình trao cho thẩm định viên nhãn hiệu tại Việt Nam có quyền tự quyết quá rộng. Dù được gợi ý tám (08) tiêu chí để xác định nhãn hiệu có nổi tiếng nhưng vẫn không có bất kỳ bộ quy chuẩn xét nghiệm cụ thể nào được ban hành giúp cơ quan chức năng quyết định khi nào nhãn hiệu tranh chấp là là nhãn hiệu nổi tiếng hoặc nhãn hiệu được sử dụng và được công nhận rộng rãi. Dường như một quy định có cơ sở pháp lý tốt chưa hẳn đã đủ để việc thực thi được đảm bảo công bằng, do đó, các chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng được khuyến nghị nên tham khảo danh sách nhãn hiệu nổi tiếng thường niên được công bố bởi các cơ quan khác, cũng như các bộ tiêu chuẩn xét nghiệm khi có nhu cầu bảo vệ nhãn hiệu của mình ở Việt Nam.
© 2014 Bross & Partners. All Rights Reserved

Bản gốc tiếng Anh được đăng trên tạp chí World Trademark Review số June/July 2014

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *