Lẽ công bằng, công lý và vai trò của tòa án

29/06/2015
(Thời báo Kinh tế Sài Gòn, số 26-2015, ra ngày 25/06/2015 – Luật sư Lương Văn Trung – Công ty Luật Bross & Partners – Trọng tài viên VIAC và Luật sư Lê Quang Vy – Công ty VLT Lawyers)
 

Khoản 2, điều 4, dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) đưa ra quy định mới: “Tòa án không được từ chối yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng”. Đây là quy định mang tính nhân bản, đảm bảo được các quyền dân sự của công dân, phù hợp với chuẩn mực pháp luật tiến bộ của thế giới, mà mục đích tối thượng là để nhằm đạt được lẽ công bằng cho đương sự.

Tuy nhiên, tự thân quy định này không thể thực hiện được mục đích đó mà cần hai yếu tố căn bản: (i) tinh thần hay nội dung của pháp luật (luật nội dung) và (i) cách thức hay quy trình thực hiện nó (luật tố tụng).

Nguyên tắc “Bất khẳng thụ lý”

Bất khẳng thụ lý là một nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự của hầu hết các nước trên thế giới, bao gồm hệ thống luật thành văn và luật bất thành văn (hay châu Âu lục địa – Civil Law và Thông luật – Common Law). Nguyên tắc này xuất phát từ châm ngôn “Luật pháp không tự thân quan tâm đến các tiểu tiết” (de minimis non curat lex).

Theo đó, nguyên tắc cơ bản trong hệ thông luật Common Law là khi phát sinh một vụ việc mà tòa án không tìm thấy án lệ hay quy định của pháp luật thành văn thì tòa án đó tự thấy nghĩa vụ phải tìm đến các nguyên tắc của chính sách công cộng, và châm ngôn đó được sử dụng như các hỗ trợ sáng tạo để thiết lập các án lệ mới trong thẩm quyền của tòa án. Điều 4 của Bộ luật Napoléon năm 1803-1804 (tên chính thức đến ngày nay là Bộ luật Dân sự Pháp) cũng có cách tiếp cận tương tự khi quy định “Thẩm phán nào từ chối thụ lý xét xử một vụ việc, viện dẫn lý do luật không có quy định, quy định tối nghĩa, không rõ, sẽ phải chịu trách nhiệm vì từ chối công lý”. Nguyên tắc này cũng được áp dụng trong nhiều bộ luật tại Việt Nam trước năm 1945 ở miền Bắc và trước năm 1975 ở miền Nam.

Do đó, việc quy định nguyên tắc “Tòa án không được từ chối yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng” tại điều 4 dự thảo BLTTDS là một bước tiến hết sức tiến bộ trong lập pháp và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân tại Việt Nam. Quy định này đã thỏa mãn được được cái sở dĩ nhiên của một điều luật là (i) không có không được; (ii) không có không xong; (iii) không có không xuôi; (iv) thiếu nó là rối loạn; (v) thiếu nó là xã hội lâm nguy.

Nguyên tắc pháp lý tổng quát

Có nhiều lý thuyết được nêu ra để tìm căn nguyên của pháp luật, nhưng tựu chung có thể chia ra hai trường phái: (i) Thuyết cổ điển (còn gọi là thuyết luật tự nhiên); (ii) Thuyết hiện đại.

Thuyết cổ điển cho rằng toàn bộ các quy tắc pháp lý có tính cách lý tưởng, nó không bắt nguồn từ ý chí của nhà làm luật mà được khởi nguồn từ trật tự thiên nhiên của vạn vật. Do vậy luật tự nhiên có tính chất bao quát, bất di bất dịch và mục đích của nó là bảo vệ các quyền cá nhân.

Ngay từ thời cổ đại, Trung Quốc đã có những khái niệm thô sơ về luật tự nhiên. Người Trung Quốc cho rằng thiên đạo và con người có quan hệ mật thiết với nhau. Trời là công lý tự nhiên vậy con người phải theo thiên lý mà hành động, làm việc gì hợp với lẽ trời là lẽ phải, nghịch với lẽ trời là sai trái.

Tại Việt Nam, bộ Hoàng Việt Luật lệ thời vua Gia Long cũng có những điều khoản áp dụng luật tự nhiên. Điều 351 quy định tội danh “Không nên làm” (bất ưng). Theo đó, phàm những việc không nên làm mà làm, thì phạt 40 roi, nặng thì 80 trượng. Đặt ra điều luật “Không nên làm” là để bổ sung cho những điều luật còn thiếu sót, tức khi con người phạm tội mà không có điều luật để trị tội, nếu xét thấy về tình hay lý một việc không nên làm mà làm thì sẽ bị trừng phạt. Về phương diện xã hội và luân lý, những sự việc như không nuôi dưỡng cha mẹ già yếu, không cứu giúp người gặp nạn nếu không có điều luật cụ thể thì sẽ áp dụng điều luật này để chế tài.

Trái lại, thuyết hiện đại thì cho rằng không có một luật tự nhiên chung cho nhân loại và có tính cách bất di bất dịch. Pháp luật phát sinh trong cộng đồng xã hội, tùy theo thời gian nó biến chuyển như ngôn ngữ và phong tục bởi sự ra đời của các đạo luật do con người ban hành. Tuy nhiên, các luật gia theo thuyết hiện đại gần đây cũng công nhận luật tự nhiên nhưng thu hẹp phạm vi của nó chỉ bao gồm những nguyên tắc pháp lý cũng như những nguyên tắc luân lý mà nhân loại công nhận từ lâu, các nguyên tắc ấy rất cần thiết cho lợi ích chung của xã hội, như nguyên tắc công bằng (Equity).

Tại nước Anh, từ thế kỷ 12, nguyên tắc công bằng đã dần trở thành một hệ thống pháp luật khác hẳn nhưng tồn tại song song và bổ sung cho hệ thống Common Law – là hệ thống coi trọng hình thức của quan hệ pháp luật, quy định cụ thể và rõ ràng của pháp luật và tính “giấy trắng mực đen” của thỏa thuận dân sự. Anh có tòa án riêng (Court of Equity hay Chancelor Court) để xét xử theo nguyên tắc công bằng mà nền tảng là công lý tự nhiên, bằng việc coi trọng ý chí thực nhưng ngay tình của các bên trong giao dịch và có thể bỏ qua hình thức văn bản thảo thuận hay các quy định khô cứng về hình thức giao dịch của Common Law. Nguyên tắc công bằng thậm chí còn được ưu tiên áp dụng (overrule) trên cả Common Law.

Hệ thống Civil Law không chia sẻ sự hình thành và phát triển của nguyên tắc công bằng nhưng rất nhiều quốc gia trong hệ thống này đã và đang áp dụng nhiều (tinh thần) nguyên tắc tiến bộ này.

Điều 4, Bộ Luật Dân sự của Thụy Sỹ quy định rằng “thẩm phán áp dụng các quy tắc của luật pháp và sự công bằng, mỗi khi luật pháp dành cho thẩm phán quyền thẩm lượng, hay giao quyền cho thẩm phán tuyên án chiếu theo trường hợp hoặc lý do chính đáng”.

Bộ luật Dân sự của Pháp quy định tòa án có quyền tuyên cho con nợ không may mắn và ngay tình một thời hạn để trả nợ (điều 1244) hay tòa án có quyền giảm bớt các nghĩa vụ có tính cách quá đáng của vị thành niên (điều 484). Các trường hợp trên đây cho thấy nguyên tắc công bằng có ích lợi là làm cho các quy tắc pháp lý trở nên mềm dẻo và nhân đạo hơn.

Tại Việt Nam, Bộ luật Dân sự 2005 (BLDS) và nhiều văn bản pháp luật khác đều quy định quyền của công dân liên quan đến quyền bất khả xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, quyền tài sản và các quyền chính trị, tư tưởng, xã hội và kinh tế khác. Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận rằng, dù có những nguyên tắc pháp lý tổng quát được minh thị trong BLDS như nguyên tắc người nào gây ra sự tổn thất thì phải bồi thường thiệt hại (điều 604), nguyên tắc đắc lợi vô căn (điều 189), nhưng cũng có những nguyên tắc pháp lý tổng quát chưa được luật hóa.

Vì vậy, cần có cơ chế để tòa án có thể và bắt buộc phải tham chiếu vào các nguồn pháp luật khác như tục lệ, án lệ, học lý để xét xử trên cơ sở nguyên tắc công bằng. Ở đó, công lý sẽ được tìm thấy bằng lý trí và tâm tín mà không có bất cứ một điều luật thành văn nào chỉ ra.

Việc tòa án từ chối bảo vệ các quyền dân sự khi mà luật pháp chưa có quy định cụ thể về yêu cầu của người dân vừa là một sự từ chối bảo vệ công lý, vừa là sự phủ nhận vai trò của mình. Đồng thời, đó là một sự đòi hỏi hết sức vô lý đối với việc luật pháp phải tiên lượng và quy định mọi chi tiết dù nhỏ nhất liên quan đến các hành xử và tương tác của con người trong xã hội.

Do vậy, ngoài việc mở rộng nguồn pháp luật để tòa án tham chiếu, nhà làm luật cũng cần đặt ra biện pháp chế tài đối với thẩm phán khi từ chối thụ lý vì lý do chưa có điều luật để áp dụng, bên cạnh các vi phạm về thời hạn giải quyết vụ việc, mà có thể tạo nhiều hệ lụy lớn về kinh tế, chính trị và xã hội. Công lý bị trì hoãn là công lý bị từ chối và bất khẳng thụ lý cũng là một sự từ chối công lý rõ ràng, vô lý và thiếu trách nhiệm

Để xem nội dung bài viết trên website của Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Quý khách vui lòng bấm vào đây 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *