MỘT VÀI CHIA SẺ CỦA LUẬT SƯ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN BỐI CẢNH HÌNH THÀNH ÁN LỆ 69/2023/AL
Hôm 17/10/2023, một thành viên chung nhóm zalo “Commercial Arbitration Group” với tôi có thông tin về Án lệ số 69/2023/AL về thẩm quyền của Trọng tài thương mại trong việc giải quyết tranh chấp thỏa thuận bảo mật thông tin và không cạnh tranh (“Án lệ 69”) để các thành viên tham khảo và trao đổi.
Án lệ 69 được xây dựng từ Quyết định 755/2018/QĐ-PQTT của Toà án Nhân dân Tp. Hồ Chí Minh về công nhận Phán quyết trọng tài của một vụ việc mà Bross & Partners tham gia từ 2017.
Với Án lệ 69, sau gần 06 năm kể từ khi vụ việc được bắt đầu được giải quyết, vấn đề Trọng tài thương mại có thẩm quyền hay không trong việc giải tranh chấp thỏa thuận bảo mật thông tin và không cạnh tranh (tiếng Anh thường gọi là Non-Disclosure Agreement/“NDA” và Non-Compete Agreement/“NCA” – gọi chung là “NDCA”) đã được xác định rõ ràng.
Đây có lẽ một trong những sự kiện vui của các tổ chức trọng tài thương mại, đặc biệt trong bối cảnh đang có nhiều hội thảo liên quan đến sửa đổi Luật Trọng tài thương mại.
Để chia sẻ, trao đổi làm rõ hơn bản chất của tranh chấp được đề cập tại Án lệ 69, và bối cảnh dẫn đến việc ban hành Án lệ 69, học theo anh bạn thân của tôi, Luật sư Lương Văn Trung, tôi xin chia sẻ một số thông tin sau:
1. Diễn biến và thông tin tranh chấp liên quan đến NCA đến khi có Phán quyết của trọng tài thương mại:
1.1. Tháng 09/2017, tôi và cộng sự của mình tại Bross & Partners có tiếp nhận đề nghị cung cấp dịch vụ pháp lý tư vấn và hỗ trợ cho công ty con tại Việt Nam của một tập đoàn đa quốc gia về công nghệ và thương mại điện tử nổi tiếng trên thế giới (“NSDLĐ” hoặc “Công ty”) trong một tranh chấp liên quan đến NCA tại Trọng tài thương mại, theo đó họ muốn kiện 01 người nguyên là lao động cấp cao (“NLĐ”) đã vi phạm NCA, cụ thể NLĐ đã vi phạm thỏa thuận khi làm cho đối thủ cạnh tranh sau khi chấm dứt hợp đồng lao động (“HĐLĐ”) (“Người vi phạm”), trong khi theo NCA, NLĐ đó cam kết không làm việc cho cho đối thủ cạnh tranh của NSDLĐ trong vòng 12 tháng sau khi HĐLĐ chấm dứt (“Tranh chấp”). Chúng tôi cũng được đại diện của Công ty chia sẻ là trước đó đã tham vấn một số Công ty Luật khác về Tranh chấp này song chưa nhận được ý kiến tư vấn phù hợp và tích cực. Như một thói quen nghề nghiệp, tôi và cộng sự (thời điểm đó là bạn Phan Tiến Đồng – hiện đã là Luật sư và Luật sư Nguyễn Văn Thái – nay là Luật sư Thành viên của Bross & Partners) đã bắt tay nghiên cứu nhanh vụ việc và đặt câu hỏi rằng Trọng tài thương mại có thẩm quyền giải quyết Tranh chấp này không, tức Tranh chấp này có phải là tranh chấp dân sự hoặc kinh doanh thương mại không? Có rất nhiều quan điểm khác nhau trong giới Luật sư tại thời điểm đó. Ngay tại Bross & Partners cũng có nhiều quan điểm khác nhau. Tựu trung là 02 quan điểm, đó là (1) đây là tranh chấp lao động vì cho dù HĐLĐ đã chấm dứt, song tranh chấp này có liên quan đến quan hệ lao động, phù hợp với Điều 3.7, Bộ luật lao động 20121, do đó, chỉ có Tòa án mới có thẩm quyền giải quyết; và (2) đây không phải tranh chấp lao động, vì khi xảy ra sự kiện vi phạm NCA, HĐLĐ đã chấm dứt, do đó, Trọng tài thương mại có thẩm quyền giải quyết tranh chấp (Vấn đề pháp lý số 01). Trong lúc phân vân (mặc dù tôi theo quan điểm số (2)), tôi có hỏi một Luật sư nổi tiếng và là Thày của mình (hiện đã mất), người mà không những tôi mà nhiều Luật sư khác gọi là “Thày” thì được Thày hỏi lại là “Ông xem lại xem lúc bà (NLĐ) ấy vi phạm NCA thì bà ấy vi phạm với tư cách pháp l{ gì?” Ngay sau khi nghe câu gợi ý của Thày, tôi và cộng sự nhận định rất nhanh và dứt khoát là Tranh chấp này nhất định không phải là tranh chấp lao động vì khi vi phạm Người vi phạm không còn tư cách pháp lý của NLĐ, HĐLĐ đã chấm dứt, các quyền và nghĩa vụ liên quan đến quan hệ lao động2 đã được giải quyết, do đó, Trọng tài thương mại có thẩm quyền giải quyết Tranh chấp.
1.2. Ngay sau đó, chúng tôi trả lời và tư vấn nhanh cho Công ty và được Công ty chọn là đơn vị tư vấn và hỗ trợ cho họ trong quá trình giải quyết Tranh chấp tại Trọng tài thương mại.
1.3. Sau khi có chỉ định đó của Khách hàng, chúng tôi tiếp tục nghiên cứu kỹ vụ việc với quan điểm nhất quán rằng đây có thể là vụ việc mới, chưa có tiền lệ, nên phải làm kỹ, quyết tâm và không để rơi vào “tư duy kiểu lối mòn”. Tuy vậy, sau khi nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ việc và quy định pháp luật liên quan thì ngoài vấn đề thẩm quyền của Trọng tài thương mại như đã nêu trên, còn có một số vấn đề pháp lý mấu chốt cần được chuẩn bị cẩn trọng và đầy đủ, đó là:
(a) Thỏa thuận về NCA, cụ thể thỏa thuận NLĐ không được làm cho đối thủ cạnh tranh trong vòng 12 tháng sau khi HĐLĐ chấm dứt có bị coi là vô hiệu do vi phạm điều cấm của “pháp luật” (theo Bộ luật Dân sự 2005) hoặc điều cấm của “luật” (Bộ luật Dân sự 2015) hay không? Cụ thể, NCA có vi phạm quyền làm việc và lựa chọn nghề nghiệp của NLĐ hay không (Điều 35.1, Hiến pháp 20133, Điều 9.2, Bộ luật lao động 20124, Điều 10.1, Bộ luật lao động 20125)?;
(b) Theo NCA, hai bên đã thỏa thuận mức bồi thường cố định thay vì bồi thường thiệt hại thực tế trong trường hợp NLĐ vi phạm (thực tế thì chắc chắn không thể chứng minh Công ty sẽ bị thiệt hại bao nhiêu khi bị vi phạm NCA). Tuy nhiên, tại thời điểm hai bên ký kết NCA, Bộ luật Dân sự 2005 (“BLDS 2005”) còn hiệu lực. Không có điều khoản nào của BLDS 2005 quy định hai bên có quyền thỏa thuận bồi thường với mức cố định thay vì bồi thường theo thiệt hại thực tế. Bộ luật Dân sự 2015 (“BLDS 2015”) sau đó tuy có quy định gián tiếp về quyền thoả thuận của các bên về mức bồi thường song cũng không hoàn toàn rõ ràng; và
(c) Làm thế nào để chứng minh doanh nghiệp mà NLĐ cũ đang làm việc là đối thủ cạnh tranh của Công ty? Vị trí công việc NLĐ đang làm có tương tự với vị trí mà NLĐ đã làm tại Công ty? Và quan trọng là thu thập chứng cứ chứng minh vi phạm NCA của NLĐ như thế nào?
1.4. Ba vấn đề trên và Vấn đề pháp lý số 1 cũng được NLĐ đề cập để làm căn cứ để đề nghị Hội đồng trọng tài (“HĐTT”) bác yêu cầu của Công ty khi giải quyết Tranh chấp và khi yêu cầu Toà án hủy phán quyết của Trọng tài.
1.5. Vấn đề quan hệ tranh chấp và thẩm quyền của trọng tài thương mại chúng tôi đã phân tích ở trên. Vấn đề (i) và (ii), tôi và cộng sự (sau này có thêm bạn Đoàn Thanh Bình, hiện là Luật sư làm việc tại Bross & Partners) cho rằng NCA suy cho cùng cũng là giao dịch dân sự, do đó, nó phải đảm bảo các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, trong đó có nguyên tắc “quyền tự do cam kết, thoả thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự được pháp luật bảo đảm”6. Khi không có quy định cụ thể để giải quyết vụ việc thì có thể căn cứ vào nguyên tắc cơ bản của BLDS để làm cơ sở cho lập luận và giải quyết vụ việc. Ngoài ra Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 cũng quy định áp dụng lẽ công bằng trong xét xử như là một nguồn của pháp luật. Do đó, chúng tôi cho rằng, việc ký kết NCA là hoàn toàn tự do, tự nguyện nên các thỏa thuận của NCA, nếu không vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc đạo đức xã hội, có nội dung hợp lý, chính đáng thì phải được các chủ thể tôn trọng, cụ thể:
(a) Liên quan đến vấn đề (i), chúng tôi lập luận rằng: Hiến pháp và BLLĐ quy định công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp và nơi làm việc song họ có thể có quyền từ bỏ/từ chối quyền đó của mình bằng thỏa thuận/hành vi với điều kiện họ tự do, tự nguyện khi ký thỏa thuận và thực hiện hành vi đó. Do đó, NCA sẽ không vi phạm điều cấm của pháp luật. Tuy nhiên, tại thời điểm giải quyết Tranh chấp trong NCA không có điều khoản thỏa thuận đền bù cho NLĐ (cho dù là một số tiền tượng trưng) cho nghĩa vụ không cạnh tranh của họ nên có nhiều tranh cãi liên quan đến vấn đề bình đẳng khi giao kết NCA. Sau khi có phán quyết của Trọng tài, tôi được biết các công ty có sửa lại NCA, theo đó bổ sung khoản tiền “trung thành” cho NLĐ trong NCA.
(b) Liên quan đến vấn đề (ii), chúng tôi lập luận rằng: Do BLDS quy định “Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng”7, hơn nữa, BLDS có quy định bồi thường theo thiệt hại thực tế song cũng không cấm các bên thỏa thuận bồi thường cố định, miễn là hợp lý và các bên hoàn toàn tự do, tự nguyện khi xác lập thỏa thuận đó.
(c) Liên quan đến vấn đề (iii), chúng tôi có thu thập một số chứng cứ gián tiếp qua mạng xã hội để chứng minh NLĐ có tham gia một số hoạt động tại đối thủ cạnh tranh với vị trí gần tương tự tại Công ty và đã lập vi bằng. Tuy nhiên, để chứng minh vi phạm của NLĐ chúng tôi phải sử dụng kỹ năng phù hợp thông qua hoạt động hỏi đáp và tranh luận tại phiên xử của HĐTT. Rất may là do NLĐ tự tin rằng HĐTT có thể bác yêu cầu của Công ty vì cho rằng NCA vô hiệu và thỏa thuận trọng tài không có hiệu lực vì đây là tranh chấp lao động, nên NLĐ đã thừa nhận có làm việc cho đối thủ cạnh tranh của Công ty (đây có lẽ là vấn đề khó nhất khi giải quyết tranh chấp dạng này).
1.6. Những lập luận trên của chúng tôi được HĐTT chấp nhận và ban hành phán quyết (“Phán quyết”), theo đó, HĐTT nhận định (i) không có cơ sở xác định NCA vi phạm điều cấm của pháp luật và không có cơ sở tuyên NCA vô hiệu, (ii) thỏa thuận trọng tài là hợp pháp, (iii) có cơ sở xác định NLĐ vi phạm NCA, qua đó chấp nhận yêu của Công ty và buộc NLĐ bồi thường cho Công ty số tiền bồi thường đã được thỏa thuận tại NCA do hành vi vi phạm của mình. Ngoài ra, còn một nội dung quan trọng nữa mà HĐTT nhận định trong Phán quyết là HĐTT cho rằng cơ sở pháp lý cho sự phát sinh và tồn tại của NDCA là Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (“Luật SHTT”), theo đó quyền sở hữu bí mật kinh doanh của doanh nghiệp phải được bảo hộ và “chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để bí mật kinh doanh đó không bị bộc lộ và không dễ dàng tiếp cận được”8. Nhận định này của HĐTT phù hợp và xem như chấp nhận quan điểm của chúng tôi khi cho rằng bí mật kinh doanh của doanh nghiệp là tài sản vô hình của doanh nghiệp được quy định tại Luật SHTT. Theo đó, thông tin mật, trong đó có bí mật kinh doanh là đối tượng thuộc quyền sở hữu công nghiệp, một dạng tài sản vô hình của doanh nghiệp (Điều 3.2, Luật SHTT), và phải được các bên, trong đó có NLĐ tôn trọng. NSDLĐ có quyền áp dụng các biện pháp cần thiết, bao gồm xác lập NDCA để bảo vệ bí mật kinh doanh của mình (Điều 84.3, Luật SHTT). Cũng theo Luật SHTT, vi phạm nghĩa vụ bảo mật quy định tại NDCA cũng được coi là xâm phạm quyền đối với bí mật kinh doanh của NSDLĐ (Điều 127.1 (c), Luật SHTT). Đây là lý do chính để các bên thỏa thuận và xác lập NDA và NCA.
2. Diễn biến và thông tin trong giai đoạn xem xét đề nghị hủy Phán quyết của HĐTT tại Tòa án có thẩm quyền:
2.1. Sau khi có Phán quyết, NLĐ có yêu cầu hủy toàn bộ Phán quyết tại Tòa án có thẩm quyền khi cho rằng (i) tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Trọng tài do đây là tranh chấp lao động, (ii) thỏa thuận trọng tài vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, cụ thể do NCA vi phạm quyền làm việc của NLĐ – vi phạm Hiến pháp và BLLĐ – qua đó thỏa thuận trọng tài vô hiệu, (iii) Phán quyết trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, cụ thể nguyên tắc tuân thủ luật và tôn trọng thỏa thuận của các bên. Tựu chung, cơ sở mà NLĐ để đề nghị hủy toàn bộ Phán quyết là bốn vấn đề mà chúng tôi đã nêu trên. Một lần nữa tôi và cộng sự được Công ty tin tưởng và tín nhiệm tư vấn và bảo vệ cho Công ty tại phiên họp hủy phán quyết trọng tài tại Tòa án có thẩm quyền. Và với những lập luận sắc bén và được chuẩn bị kỹ cùng kỹ năng hợp lý tại phiên họp và sự khách quan, cẩn trọng cùng tư tư tưởng tiến bộ của Hội đồng xét đơn, trong đó có Thẩm phán chủ tọa, yêu cầu hủy toàn bộ Phán quyết của NLĐ không được Hội đồng xét đơn chấp nhận, theo đó, Phán quyết có hiệu lực thi hành.
2.2. Sau khi có Quyết định 755/2018/QĐ-PQTT của Hội đồng xét đơn (“Quyết định”), tôi có gặp và trao đổi với chị Thẩm phán chủ tọa, một trong những thẩm phán có kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh tế, thương mại, hiểu và ủng hộ trọng tài thương mại. Nhận thấy đây là vụ việc mới, chưa có tiền lệ nên tôi có đề nghị và nói vui rằng “chị có thể xem xét trình các lãnh đạo để vụ việc và quyết định này được chọn làm án lệ được không?”. Thẩm phán chủ tọa nói để suy nghĩ, báo sau và nói tôi cung cấp cho Thẩm phán toàn bộ hồ sơ liên quan đến Tranh chấp, trừ tài liệu phải bảo mật thông tin theo quy định. Thời gian sau, tôi có gặp lại Thẩm phán chủ tọa và được chị thông báo là đã nghiên cứu và trình Tòa án nhân dân tối cao để đưa vụ việc và quyết định này trở thành án lệ, trong quá trình xử lý nếu cần thì đề nghị tôi phối hợp. Tôi trả lời mình rất sẵn sàng vì theo tôi nếu có án lệ này sẽ có tác dụng tích cực cho nền tư pháp, cho trọng tài thương mại và doanh nghiệp và cũng cho NLĐ (vì nếu ký NCA, NLĐ có quyền thỏa thuận (nếu được), và qua đó có quyền yêu cầu NSDLĐ chỉ trả một khoản tiền “trung thành” theo nguyên tắc bình đẳng và tự do, tự nguyện).
3. Diễn biến và thông tin sau khi có Quyết định bác yêu cầu hủy toàn bộ Phán quyết:
3.1 Một thời gian ngắn sau khi có Quyết định, không hiểu lý do tại sao, Quyết định được công bố và có nhiều bài báo viết và tranh luận, trao đổi về các khía cạnh liên quan đến NDCA và Phán quyết và Quyết định. Tựu trung là vẫn có 02 luồng quan điểm đó là (1) đây là tranh chấp lao động vì cho dù HDLĐ đã chấm dứt song tranh chấp này có liên quan đến quan hệ lao động, phù hợp với Điều 3.7, Bộ luật lao động 20129, do đó, chỉ có Tòa án mới có thẩm quyền giải quyết và (2) đây không phải tranh chấp lao động vì khi vi phạm HĐLĐ đã chấm dứt, do đó trọng tài thương mại có thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Vì có tham gia nghiên cứu sơ bộ về NDCA và cũng tham gia toàn bộ quá trình giải quyết Tranh chấp nên tôi có dự thảo 01 bài viết và dự định chia sẽ một số ý kiến liên quan đến NDCA (có bài viết đính kèm) tại 01 thời báo kinh tế có uy tín của Việt nam. Tuy nhiên, sau khi gửi dự thảo bài viết tôi nhận được tin của thời báo đó là nội dung này đã có nhiều bài viết nên sẽ không đăng nữa.
3.2. Một thời gian khá lâu sau, năm 2022, tôi và cộng sự được công ty con của một tập đoàn đa quốc gia về công nghệ (“Công ty công nghệ”) chọn tư vấn và hỗ trợ cho một tranh chấp cũng liên quan đến NCA tại trọng tài thương mại, theo đó, Công ty công nghệ yêu cầu NLĐ bồi thường cho Công ty công nghệ một khoản tiền đã được thỏa thuận tại NCA do hành vi vi phạm NCA của NLĐ, cụ thể làm cho đối thủ cạnh tranh trong 12 tháng sau khi HĐLĐ chấm dứt (“Yêu cầu khởi kiện”).
3.3 Trong quá trình nghiên cứu và giải quyết tranh chấp này, chúng tôi được biết ngày 12/11/2020, Bộ lao động thương binh và xã hội có ban hành Thông tư số 10/2020/TT-BLĐTBXH (“Thông tư 10/2020/TT-BLĐTBXH”). Theo đó, tại Điều 4.3, Thông tư 10/2020/TT-BLĐTBXH có quy định là khi phát hiện NLĐ vi phạm NDA thì NSDLĐ có quyền yêu cầu người lao động bồi thường theo thỏa thuận của hai bên, cụ thể: (i) trường hợp phát hiện vi phạm đó trong thời gian thực hiện HĐLĐ thì xử lý việc bồi thường thiệt hại quy định tại khoản 2 Điều 130 của BLLĐ; (ii) trường hợp phát hiện vi phạm sau khi chấm dứt HĐLĐ thì xử lý theo quy định của pháp luật dân sự và pháp luật khác có liên quan. Theo quan điểm của tôi và cộng sự, quy định này có liên quan đến không chỉ NDA mà cả NCA, vì cơ sở để các bên thỏa thuận và xác lập NCA cũng là để bảo vệ bí mật kinh doanh của doanh nghiệp và quyền và nghĩa vụ liên quan của NLĐ do quy định trên của Thông tư 10/2020/TT-BLĐTBXH hoàn toàn có thể áp dụng cho NCA. Theo chúng tôi đây có thể coi là sự tiến bộ và cởi mở hơn của Bộ lao động Thương binh và Xã hội liên quan đến NDCA. Hơn hết, đây là cách tiếp cận hợp lý về mặt pháp lý, bởi khi đã chấm dứt quan hệ lao động, thì tư cách giữa các bên khi xảy ra hành vi vi phạm không còn là NSDLĐ và NLĐ nữa.
3.4. Do đó, khi tham gia giải quyết tranh chấp trên tại trọng tài thương mại, một mặt chúng tôi vẫn sử dụng những luận điểm khi tham gia giải quyết Tranh chấp năm 2017, một mặt chúng tôi căn cứ quy định trên của Thông tư 10/2020/TT-BLĐTBXH để lập luận và đề nghị HĐTT chấp nhận Yêu cầu khởi kiện của Công ty công nghệ. Tuy nhiên, yêu cầu khởi kiện này không được HĐTT chấp nhận vì không đủ chứng cứ hợp pháp chứng minh hành vi vi phạm NCA của NLĐ. Tuy nhiên, HĐTT có 01 nhận định là: (i) NCA có hiệu lực pháp luật, ràng buộc với các bên theo Điều 3.2, BLDS 201510 và (ii) Thỏa thuận trọng tài có hiệu lực mặc dù NLĐ có yêu cầu HDDTT bác toàn bộ yêu cầu của Công ty công nghệ. Chúng tôi cho rằng phán quyết như vậy cơ bản đã đạt mục đích của khách hàng, tức là HĐTT một lần nữa công nhận NCA và Thỏa thuận trọng tài, cho dù thời điểm đó cũng còn nhiều câu hỏi là liệu tranh chấp NCA sau khi HĐLĐ chấm dứt có phải tranh chấp dân sự, kinh doanh thương mại hay không? và Trọng tài thương mại có thẩm quyền giải quyết tranh chấp này không?
3.5. Ngày 18/8/2023, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua Án lệ 69 và ngày 01/10/2023, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ký quyết định công bố Án lệ số 69 về thẩm quyền của Trọng tài thương mại trong việc giải quyết tranh chấp NDCA thì có lẽ các tranh luận về thẩm quyền của trọng tài thương mại trong việc giải quyết tranh chấp NCA sau khi HĐLĐ chấm dứt không còn nữa, cũng như các bên và HĐTT sẽ không còn phải mất thời gian xem xét và đánh giá khi giải quyết tranh chấp.
3.6. Ngoài ra, có nội dung quan trọng được đề cập trong Án lệ số 69/2023 đó là tại Mục [6], Phần nhận định của Tòa án có nêu “Bên cạnh đó, bà T cho rằng NDA vi phạm quy định về quyền làm việc của người lao động, vi phạm các hành vi bị nghiêm cấm theo Luật Việc làm năm 2013 mà Hội đồng trọng tài vẫn công nhận NDA là Hội đồng trọng tài đã vi phạm nguyên tắc tuân thủ pháp luật của người lao động cũng như điều cấm tại Luật Việc làm năm 2013. Xét thấy tại Điều 4 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Quyền tự do cam kết, thỏa thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự được pháp luật bảo đảm, nếu cam kết, thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Trong quan hệ dân sự, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được áp đặt, cấm đoán, cưỡng ép, đe dọa, ngăn cản bên nào. Cam kết, thỏa thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên và phải được cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác tôn trọng”. Trong trường hợp này, giữa bà T với Công ty R đã tự nguyện ký kết, khi k{ bà T là người có đầy đủ năng lực hành vi theo quy định của pháp luật, không bị ép buộc, lừa dối hay áp đặt { chí để bà T phải chấp nhận k{ NDA. Do đó, NDA có hiệu lực. Việc Hội đồng trọng tài công nhận hiệu lực của NDA là hoàn toàn đúng pháp luật”. Theo chúng tôi đây là nội dung quan trọng và có ý nghĩa pháp lý nhất mà chúng ta có được từ Tranh chấp này. Với nhận định của Tòa án tại Quyết định bác yêu cầu hủy Phán quyết của Trọng tài thương mại và nhận định này được ghi nhận trong Án lệ số 69, có thể nói là đã có thêm cơ sở pháp lý để bảo đảm rằng NDCA (bao gồm NDA và NCA) có hiệu lực, tức là không bị coi bị vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật và đạo đức xã hội cho dù tranh chấp liên quan đến NDCA được giải quyết bởi bất kỳ cơ quan tài phán nào tại Việt Nam, bao gồm cả tòa án. Đó là vấn đề mà chúng tôi đã mất nhiều công sức để bảo vệ cho quan điểm NDCA là có hiệu lực trong 02 vụ việc mà chúng tôi đã đề cập trên cho đến khi có Án lệ số 69.
4. Kết luận:
4.1. Qua vụ Tranh chấp, chúng tôi đã đúc kết được nhiều kinh nghiệm liên quan đến kiến thức và kỹ năng khi tham gia giải quyết tranh chấp liên quan đến NCA, trong bối cảnh có nhiều ý kiến khác nhau thậm chí “trái chiều” liên quan đến NCA cho đến khi Án lệ 69 được công bố. Thật may vụ việc được các bên thỏa thuận giải quyết bởi Trọng tài thương mại. Bản thân tôi cũng may mắn có được sự hỗ trợ của khách hàng, các cộng sự và chuyên gia pháp lý, trong đó, có Người Thày của nhiều Luật sư chúng tôi (đã có ý kiến rất giá trị) và chị Thẩm phán chủ tọa (đã lắng nghe và thấu hiểu quan điểm của chúng tôi về NDCA và cơ chế trọng tài thương mại.
4.2. Để tóm lại bài viết, theo chúng tôi có hai vấn đề chính về Tranh chấp này mà chúng tôi chia sẻ là:
(1) Trường hợp vấn đề pháp lý mà không thể giải quyết bằng những quy định cụ thể của pháp luật Việt Nam thì có thể vận dụng và căn cứ vào các nguyên tắc cơ bản của pháp luật để giải quyết vấn đề pháp lý đó. Trong Tranh chấp này, chúng tôi đã vận dụng nguyên tắc cơ bản của BLDS để giải quyết Tranh chấp, đó là (i) nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thoả thuận và (ii) nguyên tắc chủ thể được quyền làm/thỏa thuận các vấn đề mà pháp luật không cấm trừ khi hành vi/thỏa thuận đó vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội (Điều 4, BLDS 2005, nay là Điều 3.2 BLDS 2015).
(2) Khi giải quyết các vấn đề, trong đó có vấn đề pháp lý đừng để cho mình rơi vào “tư duy lối mòn”.
4.3. Mục đích của bài viết này của chúng tôi là chia sẻ về quá trình tham gia giải quyết tranh chấp liên quan đến NCA để các bạn hiểu hoàn cảnh và cơ sở ra đời của Án lệ 69 cho đến khi có Quyết định bác yêu cầu hủy Phán quyết trọng tài.
Bài viết này không có ý định quảng bá và bàn sâu về bản chất NDCA.
Quý khách vui lòng bấm vào ĐÂY để xem nội dung Án lệ số 69/2023/AL
(*) Luật sư Thành viên của Công ty Luật Bross & Partners
Mobile: (+84) 903 556 119
Email: hoang@bross.vn
Skype: Huyhoang.nguyen90
1 Tranh chấp lao động là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh giữa các bên trong quan hệ lao động
2 Điều 3.6, BLLĐ 2012 “Quan hệ lao động là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa người lao động và người sử dụng lao động”.
3 “Công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc”.
4 “Nhà nước, người sử dụng lao động và xã hội có trách nhiệm tham gia giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm”.
5 “Được làm việc cho bất kz người sử dụng lao động nào và ở bất kz nơi nào mà pháp luật không cấm”.
6 Điều 4, BLDS 2005 và Điều 3.2, BLDS 2015.
7 Điều 3.2, BLDS 2015.
8 Điều 84.3, Luật sở hữu trí tuệ 2005.
9 Tranh chấp lao động là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh giữa các bên trong quan hệ lao động
10 Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng.
Để lại một bình luận