Những nguyên tắc cơ bản của pháp luật về chống hàng giả.
Việt Nam đã triển khai luật nội dung để chống lại mối đe dọa của hàng giả
Sản xuất và kinh doanh hàng giả và nạn xâm phạm bản quyền không chỉ gây nguy hại tới nền kinh tế và lợi ích của chủ thể quyền mà nó còn gây ra những mối nguy hại tới sức khỏe của con người. Bài viết này phản ánh sự phát triển của luật nội dung và những cách thức thực thi nhằm chống lại hàng giả và nạn xâm phạm bản quyền ở Việt Nam.
Xác định “Hàng giả” là đối tượng có thể bị truy cứu Hình sự
“Hàng giả” là khái niệm lần đầu tiên được xác định trong Nghị định 140/HDBT ngày 25/4/1991 gồm "Hàng giả theo Nghị định này, là những sản phẩm, hàng hoá được sản xuất ra trái pháp luật có hình dáng giống như những sản phẩm, hàng hoá được Nhà nước cho phép sản xuất, nhập khẩu và tiêu thụ trên thị trường; hoặc những sản phẩm, hàng hoá không có giá trị sử dụng đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng của nó."
Do tính nghiêm trọng của loại tội phạm này, Điều 167 Bộ Luật Hình sự 1985 đã ban hành quy định những hành vi có lỗi cố ý trong sản xuất và kinh doanh hàng giả có thể bị kết án tù từ 12 đến 20 năm, chung thân hoặc tử hình trong trường hợp tội đặc biệt nghiêm trọng.
Để xử lý những hạn chế của Bộ Luật Hình sự năm 1985 về điều kiện không định lượng hay định lượng đối với khái niệm “Hàng giả”, Bộ luật Hình sự 1999 đã sửa đổi để phân biệt giữa hàng giả về hình thức và hàng giả về nội dung. Hàng giả về nội dung bao gồm:
- Hàng giả mạo thông thường là đối tượng của Điều 156 và có khả năng bị kết án tù đến 15 năm;
- Hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh theo Điều 157 có thể bị phạt tù tới 20 năm, chung thân hoặc tử hình và;
- Hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi theo Điều 158 có thể bị phạt tù tới 15 năm.
Hàng giả thông thường hoặc vi phạm quyền Sở hữu trí tuệ đều được coi là tội phạm theo Điều 171 với hình phạt tới 3 năm tù giam.
Mặc dù không có định nghĩa về “Hàng giả” trong Bộ Luật Hình sự 1999, cấu thành tội phạm theo Điều 156.1 bị phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm cho các hành vi sản xuất hoặc kinh doanh hàng giả có giá trị tương đương hàng thật là từ 30 triệu đồng đến 150 triệu đồng, hoặc dưới 30 triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng. Mức phạt tương tự được áp dụng cho cá nhân đã bị xử phạt vi phạm hành chính cho hành vi được xác định theo Điều này hoặc người đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm. Không như mô tả trong cấu thành tội phạm tại Điều 156, không có điều kiện cấu thành tội phạm theo Điều 157 nếu hàng giả được phát hiện là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh, hoặc theo Điều 158 nếu hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi.
Đối với các quy định chống xâm phạm bản quyền với bản chất để điều chỉnh các hành vi xâm phạm bản quyền, Bộ Luật Hình sự 1999 đã quy định riêng tại Điều 13 bao gồm các hành vi như chiếm đoạt, mạo danh của tên tác giả, sửa đổi nội dung bất hợp pháp và phát sóng bất hợp pháp, phổ biến tác phẩm văn học và nghệ thuật, theo quy định tại Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học và nghệ thuật. Các hành vi này có thể bị phạt ở mức từ 20 triệu đồng đến 200 triệu đồng hoặc cải tạo không giam giữ tới 2 năm. Trường hợp phạm tội có tổ chức, tái phạm hoặc phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, mức phạt tù có thể là từ 06 tháng đến 3 năm.
Mặc dù không có định nghĩa chính xác về hàng giả trong Luật SHTT 2005, cụm từ “hàng hóa giả mạo về SHTT” bao gồm cả hàng giả mạo về SHTTvà hàng sao chép lậu – được đề cập trong Điều 213. Vì vậy, “hàng giả” là hàng hóa gắn nhãn hiệu hoặc dấu hiệu trùng hoặc không phân biệt được với dấu hiệu đã được bảo hộ cho hàng hóa tương tự mà không được phép của chủ sở hữu, trong khi đó “hàng sao chép lậu” là bản sao sản xuất mà không được phép của chủ thể quyền tác giả hoặc quyền liên quan.
Khái niệm “Hàng hóa giả mạo về SHTT” trong Luật SHTT 2005 được giải thích có hỗ trợ cơ quan thực thi trong việc quyết định nếu hành vi xâm phạm cấu thành tội phạm theo Điều 156, 157, 158 và 171. Theo buổi hội thảo 2001 về SHTT do Đại diện quốc tế Nhật Bản tổ chức tại Hà Nội, từ 1999 đến 2000, tổng cộng có 387 vụ liên quan đến xâm phạm quyền theo ĐIều 167 đã được Tòa án xét xử. Từ 2002-2006, có 1.092 vụ liên quan đến sản xuất và kinh doanh hàng giả, mặc dù 162 trường bị truy tố theo đề nghị của Tổng Cục Cảnh sát Việt Nam, thuộc Bộ An ninh. Theo phân tích của Vụ Tổng hợp của Tòa án Tối cao, giữa 2003 và 2007, không có phán quyết nào liên quan đến Điều 171 được đưa ra bởi bất kỳ Tòa án cấp nào. Trong khi đó, chỉ có các vụ việc được lập hồ sơ, điều tra, truy tố và xét xử theo Điều 156, 157 và 158.
Không hình sự hóa các hành vi vi phạm Sáng chế, giải pháp hữu ích và Kiểu dáng công nghiệp
Để phù hợp với Điều 61 của Hiệp định Trips về các khía cạnh của quyền SHTT quy định “các thành viên cung cấp thủ tục và mức phạt theo biện pháp hình sự có thể được áp dụng ít nhất trong vụ việc có vi phạm nhãn hiệu do cố ý hoặc xâm phạm quyền tác giả trong hoạt động thương mại”- Việt Nam đã sửa đổi và bổ sung Bộ Luật Hình sự 1999 năm 2009, với những sửa đổi có hiệu lực từ 1.1.2010.
Việt Nam cũng đã bỏ Điều 131 trong phần tội phạm xâm phạm quyền tác giả. Cấu thành cơ bản của tội phạm được xác lập theo Điều 131 cụ thể là hành vi chiếm đoạt quyền tác giả, giả mạo tên tác giả, sửa đổi bất hợp pháp nội dung hoặc tuyên bố bất hợp pháp hoặc phổ biến tác phẩm- được giới hạn hành vi sao chép tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình, phân phối bản sao tác phẩm, bản ghi âm tới công chúng. Hơn nữa, cấu thành tội phạm cơ bản theo Điều 131 cụ thể là gây hậu quả nghiêm trọng hoặc tái phạm sau khi đã bị phạt vi phạm hành chính hoặc chưa được xoá án tích – được thay thế bằng một tuyên bố rằng hình phạt sẽ được áp dụng cho bất cứ ai sao chép không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả hoặc quyền liên quan, vi phạm trong hoạt động thương mại về quyền tác giả hoặc quyền liên quan đang được bảo hộ tại Việt Nam theo Điều 170a của Bộ Luật Hình sự 1999 đã bổ sung.
Theo Thông tư 01/2008/TTLT-TANHDTC-VKSNDTC-BCA-BTP 29/2/2008 ban hành bởi Tòa án tối cao, Viện Kiếm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, và Bộ Tư Pháp, đã ban hành trước khi Bộ Luật Hình sự sửa đổi- “gây hậu quả nghiêm trọng” được hiểu là các hành vi sau:
- Hành vi trong hoạt động thương mại và vì mục đích thương mại;
- Gây ra thiệt hại vật chất cho chủ sở hữu quyền tác giả hoặc quyền liên quan từ 50 triệu đồng đến 150 triệu đồng (bao gồm cả thiệt hái phát sinh do hành vi xâm phạm quyền tác giả hoặc quyền liên quan và chí phí khắc phục hậu quả của chủ sở hữu đối với hành vi vi phạm); và
- Kinh doanh hàng sao chép lậu có giá trị từ 50 triệu đồng đến 150 triệu đồng.
Đối với hành vi xâm phạm quyền SHCN, đối tượng áp dụng theo Điều 171 trong Bộ Luật Hình sự 1999 cũng được thu hẹp đáng kể. Đặc biệt, hành vi vi phạm sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp hoặc các đối tượng SHTT khác không bị áp dụng biện pháp hình sự. Vì lẽ đó, chỉ có hành vi xâm phạm nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý mới là hành vi bị áp dụng Hình sự. Cấu thành tội phạm cơ bản của Điều 171, sau khi sửa đổi đã thay đổi đáng kể: chỉ những vi phạm cố ý đối với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý trong hoạt động kinh doanh mới bị kết án Hình sự.
Theo Thông tư liên tịch 01/2008/TTLT nêu trên, “trong hoạt động thương mại” được hiểu là các hành vi sau:
- Đạt lợi nhuận từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng;
- Gây thiệt hại vật chất cho chủ sở hữu từ 50 triệu đồng đến 150 triệu đồng; và
- Buôn bán hàng giả mạo có giá trị từ 50 triệu đồng đến 150 triệu đồng.
Liệu hành vi sản xuất và kinh doanh hàng giả nên bị truy tố theo Điều 171 hay Điều 157 Bộ Luật Hình sự?
Cơ quan Cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát nhân dân Hà Nội đã bắt giữ Mai Ngọc Lâm và vợ là Đỗ thị Thanh Bình, cổ đông của Công ty cổ phần Rượu Hà Nội- đã vi phạm Điều 157.1. Đặc biệt, bị cáo đã sản xuất và kinh doanh rượu Vodka vi phạm nhãn hiệu của Công ty cổ phần Rượu Hà Nội là nhãn hiệu Hanoi Vodka.
Bị cáo đã lập luận rằng họ không thể bị truy tố theo Điều 157.1 mà phải theo Điều 171, không có cấu thành tội phạm nào theo Điều 157 và chỉ áp dụng cho hàng giả về chất lượng- trong khi cơ quan kiểm nghiệm xác nhận rằng rượu Vodka đạt chất lượng chính hãng và chỉ vi phạm nhãn hiệu (đây là hàng có chất lượng thật theo tiêu chuẩn chứ không phải hàng giả chất lượng). Ngày 10/11/2009, Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội đã ra phán quyết sơ thẩm duy trì quan điểm truy tố bị cáo theo theo Điều 157.1 Bộ Luật Hình sự 1999 và phạt tù ông Mai 24 tháng và bà Đỗ 18 tháng được hưởng án treo.
Một vụ việc tương tự được tiến hành tại thành phố Hồ Chí Minh, là một trong số vụ liên quan đến hàng giả bị truy tố theo Điều 171 từ tháng 9/2008. 20/7/2007, trong bản cáo trạng số 306/KSDT-XXSTHS, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố HCM đã truy tố Bùi Trung Hòa, giám đốc Công ty TNHH nước giải khát Nam Bình vì sử dụng hình ảnh 2 còn bò trên 10.080 lon nước uống tăng lực bị coi là tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đã được bảo hộ ”RED BULL” của TC Pharmaceitical Industries Co., Ltd theo quy định tại Điều 171.1 Bộ Luật Hình sự 1999.
Kết luận
Những vụ việc điển hình trên cho thấy việc sản xuất và kinh doanh hàng giả dường như phù hợp với các quy định hình sự là Điều 156, 157. 158 và 171 và thường bị truy tố theo Điều 156, 157 và 158- vụ việc Hình sự liên quan đến hàng giả, nhưng không có vụ việc liên quan đến Điều 171 về vi phạm quyền SHTT. Một số ý kiến cho rằng nếu hàng giả bị phát hiện không giả về chất lượng, bên vi phạm chỉ nên bị truy tố theo Điều 171, thì sẽ không chỉ công bằng hơn mà còn xác định được nguyên tắc trách nhiệm hình sự. Hy vọng rằng các yếu tố cấu thành tội phạm trong Điều 156, 157 và 158 sẽ hỗ trợ cơ quan truy tố và xét xử phân biệt được các hành vi phạm tội.
(Bài viết đăng trên website http://www.worldtrademarkreview.com/, August/September 2014, ngôn ngữ: Tiếng Anh)
Link: http://www.worldtrademarkreview.com/issues/Article.ashx?g=09782449-d5d0-4b57-97aa-41ecdfe347e4
Để lại một bình luận