Những thách thức phá vỡ Truyền thống
Mặc dù Việt Nam chấp thuận bảo hộ một số dạng nhãn hiệu phi truyền thống như nhãn hiệu 3 chiều (3D) và nhãn hiệu dưới dạng bài trí thương mại (Trade Dress) nhưng vẫn còn một số quan ngại về việc đăng ký và thực thi nó.
Theo cách phân loại của INTA (International Trademark Association), nhãn hiệu được bảo hộ có thể chia thành 02 loại, nhãn hiệu truyền thống và nhãn hiệu phi truyền thống. Nhãn hiệu truyền thống là nhãn hiệu nhìn thấy được gồm các dấu hiệu cơ bản như từ, ngữ, chữ cái, chữ số… Ngày nay, các nhãn hiệu này được bảo hộ ở đại đa số các nước bằng luật quốc gia. Nhãn hiệu phi truyền thống bao gồm các dấu hiệu mùi hương, âm thanh, hình ảnh động được dùng như nhãn hiệu trong các hoạt động tiếp thị hiện đại từ những năm 1950. Theo một khảo sát năm 2008 về nhãn hiệu phi truyền thống, được thực hiện bởi Tổ chức Hợp tác Kinh tế Châu á- Thái Bình Dương (APEC), thì có sự tăng lên về số lượng các quốc gia chấp thuận bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống, trong đó có Mỹ, Canada, Úc, New Zealand, Hong Kong, Peru, Singapore, Đài Loan.
Nhãn hiệu phi truyền thống có được bảo hộ tại Việt Nam hay không?
Cái gì cấu thành nhãn hiệu truyền thống và phi truyền thống được xác định khác nhau trong luật nhãn hiệu của các quốc gia khác nhau. Sự phân loại nhãn hiệu truyền thống hay phi truyền thống của INTA phản ảnh một xu hướng mới trong phạm trù nhãn hiệu.
Điều 15 của Hiệp định về các khía cạnh có liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs), mà Việt Nam là thành viên có quy định rằng “bất kỳ dấu hiệu hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác đều có thể làm nhãn hiệu. Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình họa và tổ hợp các màu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó, phải có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu”. Những quy định tương tự cho phép các bên ký kết quy định rằng “Trường hợp bản thân các dấu hiệu không có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ tương ứng, các thành viên có thể quy định rằng khả năng được đăng ký phụ thuộc vào tính phân biệt đạt được thông qua việc sử dụng. Các thành viên có thể quy định rằng điều kiện để được đăng ký là các dấu hiệu phải nhìn thấy được”.
Do đó, để phù hợp với quy định nêu trên, Việt Nam chỉ có nghĩa vụ phải bảo hộ những dấu hiệu có đủ điều kiện đăng ký nếu là dấu hiệu nhìn thấy được. Nói cách khác, bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống, vốn không phải là yêu cầu bắt buộc của Hiệp định TRIPs, thường được chấp thuận bảo hộ thông qua các quy định cụ thể của luật pháp từng quốc gia.
Để gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam cần phải tuân thủ đầy đủ theo TRIPs bao gồm các quy định về nhãn hiệu. Điều 4, 16, 72 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi năm 2009) quy định rằng điều kiện chung đối với nhãn hiệu được bảo hộ gồm:
– Nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh (kể cả hình ảnh ba chiều) hoặc sự kết hợp của các yếu tố đó, thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc.
Trong báo cáo khảo sát APEC 2008 về nhãn hiệu phi truyền thống, nhóm chuyên gia SHTT của APEC về cơ bản có quan điểm giống INTA về nhãn hiệu phi truyền thống, theo đó bảo hộ nhãn hiệu ba chiều và bài trí thương mại (trade dress) bởi các thành viên APEC được cho thấy rằng họ cũng đồng tình với việc bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống nhưng ở mức độ không đầy đủ.
Việt Nam chấp thuận bảo hộ đối với một số dạng nhãn hiệu phi truyền thống, dựa trên sự phân loại các nhãn hiệu của INTA. Nhãn hiệu ba chiều và bài trí thương mại có đủ điều kiện đăng ký bảo hộ, dù cho các nhãn hiệu này đã được nộp từ trước hoặc sau ngày 01/7/2006 ngày mà Luật Sở hữu trí tuệ có hiệu lực.
Một số nhãn hiệu phi truyền thống được chấp nhận bảo hộ bởi Việt Nam:

Và một số nhãn hiệu phi truyền thống xin đăng ký bị từ chối:

Xác lập quyền đối với nhãn hiệu phi truyền thống: Thách thức
Chủ sở hữu nhãn hiệu Việt Nam không hề dễ dàng xác lập quyền thành công đối với các dạng nhãn hiệu phi truyền thống, đặc biệt là nhãn hiệu ba chiều vì một số lý do sau:
– Việt Nam không có Quy chế thẩm định nhãn hiệu (Quy chế đã từng được ban hành vào năm 1991 nhưng đã hết hiệu lực).
– Xét nghiệm viên nhãn hiệu sử dụng Quy chế thẩm định không chính thức vốn không đủ chi tiết để xét nghiệm nhãn hiệu, gồm cả nhãn hiệu phi truyền thống mà trong đó nhãn hiệu 3D và bài trí thương mại hiếm khi được đề cập đến (ví dụ, Điều 7.7 quy định rằng một nhãn hiệu 3D phải được thể hiện trên hình ảnh hoặc bản vẽ mà có thể được nhìn thấy từ những hình chiếu khác nhau và phải kèm theo một bài mô tả.( có thể được yêu cầu bởi Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam (NOIP) tùy từng vụ việc).
Thiếu Quy chế thẩm định nhãn hiệu phi truyền thống dẫn đến thẩm định viên có khuynh hướng thẩm định và đánh giá nhãn hiệu phi truyền thống như thể chúng là nhãn hiệu truyền thống. Do đó, việc đăng ký thành công nhãn hiệu phi truyền thống ở Việt Nam nhìn chung là khó.
– Vì nhãn hiệu 3D còn mang ý nghĩa là Kiểu dáng công nghiệp thuộc đối tượng điều chỉnh của luật kiểu dáng công nghiệp chứ không phải luật nhãn hiệu, vì thế một số thẩm định viên cho rằng nhãn hiệu 3D phải được đăng ký dưới kiểu dáng công nghiệp chứ không phải là nhãn hiệu, nếu không thế thì vô hình chung thẩm định viên nhãn hiệu đã trở thành thẩm định viên kiểu dáng công nghiệp. Đây được coi là căn nguyên cơ bản lý giải tại sao các nhãn hiệu phi truyền thống phải đối mặt với nhiều khó khăn trong quá trình xin đăng ký.
– Một khi nhãn hiệu 3D được coi là một dấu hiệu truyền thống, thẩm định viên thường áp dụng căn cứ từ chối tuyệt đối để từ chối bảo hộ. Căn cứ từ chối thường được trích dẫn là điểm b khoản 2 Điều 74 của Luật Sở hữu trí tuệ, đã được sửa đổi, trong đó nói rằng nhãn hiệu sẽ được coi là có khả năng phân biệt nếu nó là “dấu hiệu thông thường hoặc biểu tượng, hình ảnh hoặc tên gọi thông thường của hàng hóa, dịch vụ mà bất kỳ ngôn ngữ nào đã được sử dụng rộng rãi và thường xuyên, được nhiều người biết đến”. Thẩm định viên thường chấp thuận bảo hộ chỉ khi nhãn hiệu đó được chứng minh rằng nó đã được sử dụng rộng rãi và được công nhận như một nhãn hiệu (tức là đã giành được tính chất phân biệt nguồn gốc do quá trình sử dụng mà thuật ngữ chuyên môn hay gọi là “secondary meaning”)
Thực thi việc đăng ký nhãn hiệu phi truyền thống: Chiến tranh của những ly cà phê
Société des Produits Nestlé SA đã được cấp đăng ký bảo hộ cho nhãn hiệu là hình ảnh 3 chiều của một “chiếc cốc màu đỏ” qua đơn đăng ký quốc tế chỉ định Việt Nam và các nước khác. Ban đầu, đơn đã bị từ chối vì bị coi là mô tả sản phẩm dịch vụ liên quan vì vậy không có tính phân biệt. Tuy nhiên, sau đó, nhãn hiệu được chấp thuận bảo hộ tại Việt Nam (Đăng ký quốc tế số 824804) vì Nestlé đã chứng minh được rằng nhãn hiệu này đã giành được khả năng phân biệt thông qua sử dụng (secondary meaning). Chính vì việc được cấp bảo hộ nhãn hiệu 3 chiều này, Nestlé đã thành công trong việc ngăn chặn Gold Roast Viet Nam Co., Ltd trong việc sử dụng một chiếc cốc màu đỏ bị coi là tương tự với nhãn hiệu của họ trên bao bì và hành vi này bị xem là cấu thành hành vi xâm phạm nhãn hiệu đã được bảo hộ. Giá trị của hàng hóa bị kiện vi phạm là 162,7 triệu đồng (khoảng 8.000$).
Trong vụ việc này, tháng 10/2006, Cục SHTT đã ra văn bản thẩm định tính tương tự nhãn hiệu trong vụ việc cho Nestlé và căn cứ trên công văn này, Nestle đã gửi công văn đề nghị xử lý vi phạm hành chính tới Thanh tra Bộ Khoa học Công nghệ. Thanh tra Bộ đã chuyển vụ việc cho Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bình Dương. Ngày 6.3.2008 Chủ tịch tỉnh Bình Dương ban hành quyết định (653/QĐ-XPHC) xử phạt 100 triệu đồng (khoảng 5000$) đối với Gold Roast Viet Nam vì vi phạm nhãn hiệu đã đăng ký của Netsle và buộc Gold Roast phải loại bỏ các yếu tố vi phạm trên hàng hóa vi phạm.
Gold Roast sau đó đã khởi kiện vụ án hành chính chống lại Quyết định kể trên tại Tòa án nhân dân nhân tỉnh Bình Dương vì cho rằng mình đã bị xử phạt một cách không công bằng. Để bổ sung cho lập luận của mình, Gold Roast đưa ra văn bản giám định từ Viện Khoa học Sở hữu trí tuệ Việt Nam (một viện nghiên cứu thuộc Liên hiệp các Hiệp hội Khoa học và Công nghệ Việt Nam). Tuy nhiên, đánh giá về căn cứ pháp lý, Tòa án cho rằng các ý kiến của Cục SHTT và Viện Khoa học Sở hữu trí tuệ không phải kết luận giám định. Thay vào đó, Tòa án trưng cầu giám định ở Viện nghiên cứu khác; nhưng các viện này đều từ chối vì cho rằng họ không có thẩm quyền giám định vụ việc. Sau đó Tòa án đã yêu cầu sự hỗ trợ của Phòng Cảnh sát hình sự tỉnh Bình Dương nhưng bộ phận này tuyên bố họ không có thẩm quyền xử lý việc này. Cuối cùng Tòa án yêu cầu Viện Khoa học hình sự (thuộc Bộ Công An), tuy nhiên, Viện này lấy lý do không có chuyên để từ chối yêu cầu giám định bởi tòa án. Vì không cơ quan chức năng nào chịu thực hiện giám định theo yêu cầu của Tòa án nên Tòa án cuối cùng đã dựa vào ý kiến bằng văn bản của Cục SHTT bác bỏ đơn khiếu nại của Gold Roast và đồng ý với Quyết định của Chủ tịch tỉnh Bình Dương, Gold Roast kháng cáo tới Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng sau đó không rõ vì lý do gì cho thấy họ đã tự động rút đơn kháng cáo.
Mặc dù tranh chấp không được đưa ra giải quyết ở cấp cao hơn hoặc bằng các biện pháp khác, nhưng vẫn còn đó những câu hỏi chưa có lời giải đáp, chẳng hạn như kết luận giám định của Viện Khoa học SHTT Việt Nam nên chăng phải được ưu tiên áp dụng hơn ý kiến chuyên môn của Cục SHTT. Cục SHTT là cơ quan cấp đăng ký cho Nestlé, do đó việc Tòa án dựa vào ý kiến của Cục SHTT bị đặt câu hỏi liệu tính vô tư và khách quan có được đảm bảo trong việc giải quyết trường hợp này.
Kết luận
Có thể thấy Việt Nam sẽ cần có một lộ trình dài cho việc bảo hộ toàn diện cho các nhãn hiệu phi truyền thống. Thực tế Việt Nam không có nghĩa vụ bảo hộ theo như quy định của TRIPS nêu trên và các thẩm định viên cũng thực sự thiếu các công cụ thẩm định (ví dụ, Quy chế thẩm định nhãn hiệu) để thẩm định và thực thi hiệu quả nhãn hiệu phi truyền thống. Dù cho nhãn hiệu phi truyền thống (như nhãn hiệu 3D và bài trí thương mại) được bảo hộ theo pháp luật và thực tiễn tại Việt Nam, tuy nhiên vẫn còn những quan ngại về khả năng đăng ký và thực thi của chúng.
© 2014 Bross & Partners. All Rights Reserved
Bản gốc tiếng Anh được đăng trên tạp chí World Trademark Review số December/January 2014
Để lại một bình luận