Tổng quan về Giải quyết Tranh chấp Tên miền Quốc gia .vn

14/01/2015

1. Sơ lược về Tên miền quốc tế và Tên miền quốc gia 


1.1       Tên miền (domain name) là một công cụ quan trọng góp phần giúp khách hàng nhận biết về nguồn gốc thương mại của một doanh nghiệp hoặc một sản phẩm. Cũng chính vì sự phát triển ngày càng lớn mạnh chức năng nhận diện nguồn gốc thương mại mà tên miền đã trở thành một trong những đối tượng gây xung đột ngày càng nhiều với các quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là nhãn hiệu, vốn đã tồn tại trước khi có môi trường Internet.

1.2       Vì nguyên tắc đăng ký tên miền là “duy nhất” và “ai đến trước, cấp trước” (first come, first served), do vậy, đã xuất hiện ngày càng nhiều chủ thể lạm dụng chính sách đăng ký tên miền bằng cách đăng ký trước hàng loạt tên miền trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu hoặc các quyền sở hữu trí tuệ của người khác. Các chủ thể này, bằng việc sở hữu các tên miền đó, thường chào bán tên miền cho các chủ nhãn hiệu nhằm kiếm lợi, hoặc trực tiếp sử dụng tên miền đó gây cho công chúng lầm tưởng rằng chủ thể đó với các chủ nhãn hiệu có mối liên hệ với nhau. Đó là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến thực trạng tranh chấp giữa chủ thể sở hữu tên miền với chủ sở hữu nhãn hiệu.

1.3      Tên miền quốc tế hay còn gọi là tên miền cấp cao nhất dùng chung, thường kết thúc bằng đuôi .COM, .BIZ, .NET,…Trong khi đó tên miền quốc gia cấp cao nhất dùng chung thường kết thúc bằng đuôi gồm 2 chữ cái (chỉ mã một quốc gia). Ví dụ: tên miền quốc gia cấp cao nhất dùng chung của Việt Nam là .VN, Nhật Bản: .JP, Trung Quốc: .CN, Singapore: .SG.

1.4      Tên miền quốc tế hiện nay được đặt dưới sự kiểm soát bởi ICANN  một tổ chức quốc tế hoạt động phi lợi nhuận chịu trách nhiệm đảm bảo cho môi trường Internet luôn được ổn định và thông suốt. Như vậy, Khi có tranh chấp tên miền quốc tế, không thể áp dụng pháp luật Việt Nam vì Việt Nam không có quyên tài phán đối với các tranh chấp tên miền quốc tế.

1.5      Tên miền quốc gia đặt dưới quyền tài phán của một quốc gia do vậy mọi tranh chấp tên miền quốc gia khi xảy ra sẽ được áp dụng pháp luật quốc gia để giải quyết. Tên miền quốc gia được kiểm soát chặt chẽ bằng công cụ pháp luật của Chính phủ có tên miền quốc gia đó. Tại Việt Nam, mọi tên miền quốc gia đều được quản lý bởi Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC), trực thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông thông qua Luật Công nghệ thông tin ngày 29/6/2006, Nghị định số 97/2008/NĐ-CP ngày 28/08/2008 và Thông tư số 10/2008/TT-BTTTT ngày 24/12/2008.



   2. Nguyên tắc chung về giải quyết tranh chấp Tên miền quốc gia.VN


  2.1    Mọi tranh chấp liên quan đến tên miền quốc gia (tên miền có đuôi tận cùng là .VN) đều được giải quyết theo pháp luật Việt Nam. Theo quy định của Thông tư 10/2008/TT-BTTTT ngày 24/12/2008, đơn khởi kiện được nộp và tên miền thuộc đối tượng bị khởi kiện phải đáp ứng 3 điều kiện sau:

  • Tên miền tranh chấp trùng hoặc giống đến mức nhầm lẫn với tên của Người khiếu kiện; trùng hoặc giống đến mức nhầm lẫn với nhãn hiệu thương mại hay nhãn hiệu dịch vụ mà Người khiếu kiện là người có quyền hoặc lợi ích hợp pháp; và
  • Người bị khiếu kiện không có quyền hoặc lợi ích hợp pháp liên quan đến tên miền đó; và

  • Tên miền đã được Người bị khiếu kiện sử dụng với ý đồ xấu đối với Người khiếu kiện.

2.2      Điều 76 Luật Công nghệ thông tin ngày 29/6/2006 quy định 3 hình thức giải quyết tranh chấp tên miền quốc gia:

  • Thông qua thương lượng hòa giải; hoặc
  • Thông qua trọng tài; hoặc
  • Khởi kiện tại Tòa án nhân dân.

3.  Giải quyết tranh chấp tên miền bằng biện pháp hành chính

Nhằm tuân thủ điều 10bis Công ước Paris về bảo vệ có hiệu quả chống lại các hành vi trái với tập quán lành mạnh của thương mại quốc tế, Điều 130.1.d Luật SHTT năm 2009 sửa đổi năm 2009 có hiệu lực từ 01/01/2010 quy định việc đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại được bảo hộ của người khác hoặc chỉ dẫn địa lý mà mình không có quyền sử dụng nhằm mục đích chiếm giữ tên miền, lợi dụng hoặc làm thiệt hại đến uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý tương ứng bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

Vì vậy, ngoài 3 hình thức giải quyết tranh chấp nêu ở điểm 2.2 kể trên, chủ nhãn hiệu mà có nhãn hiệu bị chiếm giữ trái phép dưới dạng tên miền bởi người khác, cũng có thể yêu cầu cơ quan thực thi quyền sở hữu trí tuệ xử lý bằng biện pháp hành chính đối với hành vi chiếm giữ và buộc thu hồi tên miền vi phạm.

Theo Điều 11 Thông tư 37/2011/TT-BKHCN ngày 27/12/2011, chủ nhãn hiệu yêu cầu xử phạt và buộc thu hồi tên miền có nghĩa vụ phải chứng minh bằng cách cung cấp các bằng chứng sau:

 

  • Chủ nhãn hiệu đã sử dụng nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại một cách rộng rãi, ổn định, được người tiêu dùng tại Việt Nam biết đến uy tín, danh tiếng của sản phẩm mang nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý hoặc tên thương mại đó thông qua các bằng chứng về quảng cáo, tiếp thị, trưng bày triển lãm; doanh thu bán hàng; số lượng sản phẩm bán ra; hệ thống đại lý phân phối, liên doanh, liên kết; quy mô đầu tư; đánh giá của các cơ quan nhà nước, phương tiện thông tin đại chúng, bình chọn của người tiêu dùng và các thông tin khác thể hiện uy tín, danh tiếng của chủ thể kinh doanh, hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại đó) trong hoạt động kinh doanh của mình tại Việt Nam;
  • Bên bị yêu cầu xử lý đã sử dụng tên miền trên mạng Internet để quảng cáo, giới thiệu sản phẩm, chào hàng, bán cho hàng hóa, dịch vụ trùng, tương tự hoặc có liên quan, làm thiệt hại đến uy tín, danh tiếng hoặc vật chất đối với chủ sở hữu nhãn hiệu, tên thương mại hoặc chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ.
    • Bên bị yêu cầu xử lý tiếp tục sử dụng nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý gây nhầm lẫn thông qua tên miền đó mặc dù đã được chủ sở hữu nhãn hiệu, tên thương mại hoặc chỉ dẫn địa lý thông báo và thỏa thuận với các điều kiện hợp lý nhưng không được chấp thuận;
  • Bên bị yêu cầu xử lý đã đăng ký nhưng quá một năm vẫn chưa đưa vào hoạt động tên miền có chứa phần chữ trùng với nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý đã được sử dụng rộng rãi và có uy tín, danh tiếng tại Việt Nam và có căn cứ chứng minh bên bị yêu cầu xử lý chỉ đăng ký chiếm giữ quyền sử dụng tên miền nhằm bán lại để kiếm lời hoặc cản trở chủ sở hữu nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ đó đăng ký tên miền, mặc dù đã được chủ thể quyền sở hữu công nghiệp thông báo và thỏa thuận với các điều kiện hợp lý nhưng không được chấp thuận; và 
  • Bên bị yêu cầu xử lý không có quyền và lợi ích hợp pháp đối với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại đã được bảo hộ của chủ thể quyền.

4. Các bằng chứng có ý nghĩa đánh giá khả năng thắng kiện 

4.1 Bằng chứng chứng minh tên miền trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của Người khiếu kiện gồm:

 

  • So sánh cấu tạo, cấu trúc của tên miền so với cấu tạo, cấu trúc của nhãn hiệu để xác định khả năng người sử dụng internet bị nhầm lẫn;
  • Xác định tính độc đáo của bản thân dấu hiệu đã đăng ký nhãn hiệu chẳng hạn như dấu hiệu sử dụng làm nhãn hiệu có tính phân biệt cao hay phân biệt yếu;
  • Bằng chứng nhãn hiệu đã được đăng ký, sử dụng và quá trình sử dụng nhãn hiệu bởi Người khiếu kiện (không phụ thuộc vào quốc gia mà nhãn hiệu đó đăng ký); bằng chứng về danh tiếng, khu vực địa lý, thời gian sử dụng nhãn hiệu.

4.2 Bằng chứng chứng minh đối tượng chiếm đoạt tên miền không có quyền hoặc lợi ích hợp pháp nào liên quan đến tên miền đăng ký gồm:

 

  • Trước khi đối tượng chiếm đoạt nhận được cảnh báo từ chủ sở hữu nhãn hiệu, đối tượng chiếm đoạt không chứng minh được mình đã sử dụng hoặc chuẩn bị sử dụng tên miền một cách trung thực để chào bán hàng hóa/dịch vụ; hoặc
  • Đối tượng chiếm đoạt đăng ký tên miền không được biết đến một cách rộng rãi thông qua tên miền đó;
  • Đối tượng chiếm đoạt không chứng minh được mình đang sử dụng mục đích phi thương mại, không có ý định thu lợi nhằm hủy hoại danh tiếng của nhãn hiệu.  

4.3 Bằng chứng chứng minh tên miền được đăng ký và sử dụng với mục đích xấu gồm:

  • Có căn cứ để xác định rằng đối tượng chiếm đoạt đăng ký tên miền đăng ký tên miền với mục đích chính là để bán lại, cho thuê hoặc chào chuyển nhượng cho chủ sở hữu đích thực của tên miền đó nhằm thu lại giá trị vật chất lớn hơn chi phí đã bỏ ra đăng ký; hoặc
  • Có căn cứ cho rằng đối tượng chiếm đoạt đăng ký tên miền đã đăng ký tên miền nhằm để ngăn chặn chủ sở hữu nhãn hiệu liên quan đến tên miền đó; hoặc
  • Có căn cứ xác định đối tượng chiếm đoạt đã đăng ký tên miền có động cơ cơ bản là để quấy rầy hoạt động kinh doanh của đối thủ cạnh tranh; hoặc
  • Đối tượng chiếm đoạt đăng ký tên miền sử dụng tên miền cố tình thu hút người sử dụng internet truy cập vào website của mình bằng việc cố ý tạo cho công chúng nhầm tưởng rằng nguồn gốc website hoặc nguồn gốc thương mại của mình với chủ nhãn hiệu là một.
1 Xem website: http://www.ICANN.ORG để biết thêm thông tin. 
 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *