VÌ SAO VIỆT NAM GIÀNH LẠI ĐƯỢC CHỈ DẪN ĐỊA LÝ CÀ PHÊ BUÔN MA THUỘT BỊ MẤT Ở TRUNG QUỐC?

14/03/2017

Luật sư Lê Quang Vinh

vinh@bross.vn

 

Mặc dù Việt Nam đã giành được chiến thắng quan trọng trong việc hủy bỏ hiệu lực các đăng ký nhãn hiệu Buôn Ma Thuột cho cà phê bị đăng ký trái phép ở Trung Quốc, việc cùng suy ngẫm thiết chế pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia liên quan đến khả năng đòi lại nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý của quốc gia này bị đăng ký ở quốc gia khác làm bài học tham chiếu là hết sức cần thiết. Bài viết dưới đây được công bố dựa trên gần như đầy đủ toàn bộ nội dung mà Bross & Partners đã tư vấn gồm cả trực tiếp và bằng văn bản cho UBND tỉnh Dak Lak năm 2011.

Khi tài sản quốc gia bị mất quá dễ

Chỉ dẫn địa lý BUÔN MA THUỘT cho cà phê nhân được bảo hộ tại Việt Nam theo Quyết định số 806/QĐ-SHTT do Cục Sở hữu trí tuệ cấp số đăng bạ 0004 ngày 14/10/2005 là tài sản quốc gia do UBND tỉnh Đak Lak được ủy quyền đứng tên. Cà phê Buôn Ma Thuột được xem là tài sản vô giá và là niềm tự hào của Việt Nam vì Buôn Ma Thuột là thủ phủ của cà phê Việt Nam, nơi đã và đang trồng, thu hoạch, chế biến và xuất khẩu cà phê với sản lượng chiếm tới hơn 50% tổng sản lượng và giá trị kim ngạch xuất khẩu cà phê của cả nước.

Năm 2010, một sự kiện gây bất ngờ đối với cả xã hội và truyền thông là việc Cơ quan nhãn hiệu Trung Quốc (CTMO) cấp bảo hộ dấu hiệu Buôn Ma Thuột dưới dạng 2 nhãn hiệu độc quyền cho một doanh nghiệp của tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc).

Nhãn hiệu

được cấp

Chủ sở hữu/

Địa chỉ

Số đăng ký/

Ngày cấp

Danh mục sản phẩm mang

nhãn hiệu được cấp độc quyền

 

http://bross.vn/image/aa(1).png

 

Công ty TNHH Cà phê Buôn Ma Thuột Quảng Châu

Phòng 1903-1905, Runhe Square, đường Da Nan số 2, huyện Yue Xiu, thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc

7611987

14/11/2010

Có hiệu lực đến 13/11/2020

Nhóm 30: Hương liệu cà phê; ca cao; cà phê; chế phẩm sinh dưỡng sử dụng như chất thay thế cà phê; đồ uống trên cơ sở cà phê; trà; đường; kẹo; bánh quy; đồ gia vị

 

http://bross.vn/image/aaaa(1).png

7970830

14/06/2011

Có hiệu lực đến 13/06/2021

Nhóm 30: Hương liệu cà phê; cà phê; chế phẩm sinh dưỡng sử dụng như chất thay thế cà phê; đồ uống trên cơ sở cà phê

 

Hệ lụy và hậu quả pháp lý từ việc mất chỉ dẫn địa lý

Buôn Ma Thuột là chỉ dẫn địa lý của Việt Nam và là tài sản quốc gia của Việt Nam. Việc chủ thể nước ngoài sở hữu nó đồng nghĩa với việc tài sản của nhà nước bị rơi vào tay kẻ khác.

Nguy cơ bị kiện hoặc bị ngăn chặn xuất khẩu ngay tại cửa khẩu biên giới Trung Quốc do xâm phạm quyền độc quyền đối với 2 nhãn hiệu trên tại Trung Quốc có thể xảy ra bất kỳ lúc nào vì Điều 52 Luật Nhãn hiệu Trung Quốc năm 1982, được sửa đổi lần thứ hai ngày 27/10/2001, quy định “bất kỳ hành vi nào trong số các hành vi sau đây đều bị coi là hành vi xâm phạm quyền độc quyền sử dụng nhãn hiệu: (a) sử dụng nhãn hiệu trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đã đăng ký cho hàng hóa trùng hoặc hàng hóa tương tự mà không có sự cho phép của chủ nhãn hiệu; hoặc (b) buôn bán hàng hóa mà biết rõ là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu đăng ký

Niềm tin của khách hàng nước ngoài đối với cà phê Việt Nam dần dần có thể bị suy giảm nghiêm trọng do khách hàng không thể phân biệt được đâu là cà phê Buôn Ma Thuột thật (xuất xứ từ Buôn Ma Thuột) và đâu là cà phê Buôn Ma Thuột rởm (có xuất xứ từ Trung Quốc).

Nguyên nhân chỉ dẫn địa lý Buôn Ma Thuột bị mất ở Trung Quốc

Chỉ dẫn địa lý (Geographical Indication hoặc hay được viết tắt là GI) được hiểu là những chỉ dẫn về hàng hóa bắt nguồn từ một lãnh thổ, khu vực hay địa phương thuộc lãnh thổ đó, có chất lượng, uy tín hoặc các đặc tính nhất định chủ yếu do xuất xứ địa lý đó quyết định. Bordeaux (Pháp) cho vang, Scotland cho rượu mạnh wishiky (Scotland), Idaho cho khoai tây (Mỹ), Phú Quốc cho nước mắm (Việt Nam) đều là các chỉ dẫn địa lý nổi tiếng được bảo hộ. Trong khi đó nhãn hiệu (Trademark) về cơ bản là dấu hiệu nhìn thấy được (gồm hình, chữ viết, chữ số, chữ cái, hình ảnh hoặc kết hợp giữa các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc) dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau. CoCaCola cho đồ uống, BMW cho ô tô, Vinamilk cho sữa là các nhãn hiệu được nhiều người biết tới.

Chức năng phân biệt nguồn gốc của sản phẩm và dịch vụ mà đều cùng có mặt ở chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu là nguyên nhân đầu tiên dẫn đến khả năng xung đột giữa chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu. Và mặt khác ở hầu hết các nước cả chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu đều chỉ phát sinh quyền độc quyền khi nó được cấp đăng ký bảo hộ. Chính 2 căn nguyên cơ bản này dẫn đến xung đột pháp lý giữa chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu, thậm chí trong nhiều trường hợp xung đột này trở thành đại chiến pháp lý dai dẳng kéo dài hàng thế kỷ, chẳng hạn như vụ tranh chấp giữa Mỹ và Cộng hòa Czech xung quanh nhãn hiệu bia Budweiser của Anheuser-Busch InBev SA/NV của Mỹ, hãng bia lớn nhất thế giới, với Budweiser Budvar Brewery, một công ty bia của Cộng hòa Czech hiện đang sử dụng chỉ dẫn địa lý (Protected Geographical Indication – PGI) ở EU gồm “Českobudějovické pivo” và “Budějovické pivo” (nghĩa là Bia từ Budweis) là một điển hình[1].

Xét về mặt bản chất, chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu giống nhau ở 3 đặc điểm: (i) là dấu hiệu có chức năng phân biệt nguồn gốc của hàng hóa/dịch vụ, (ii) quyền độc quyền chỉ phát sinh trên cơ sở được cấp văn bằng bảo hộ theo nguyên tắc ai đến trước được cấp trước (first to file first to right), và (iii) quyền độc quyền được cấp chỉ giới hạn ở lãnh thổ mà nó được đăng ký. Sự khác biệt đầu tiên giữa chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu tồn tại ở khía cạnh thời hạn bảo hộ, đối với nhãn hiệu thường là 10 năm trong khi chỉ dẫn địa lý được bảo hộ vô thời hạn. Thứ hai, hồ sơ nhãn hiệu thường khá đơn giản trong khi yêu cầu hồ sơ đối với chỉ dẫn địa lý rất phức tạp và công phu.

Như vậy, việc chỉ dẫn địa lý Buôn Ma Thuột bị đăng ký dưới dạng nhãn hiệu ở Trung Quốc một cách khá dễ dàng là bởi vì Công ty TNHH Cà phê Buôn Ma Thuột Quảng Châu đã lợi dụng 3 đặc điểm trên, cụ thể là không có ai nộp đơn đăng ký Buôn Ma Thuột cho cà phê sớm hơn ở Trung Quốc và không có chỉ dẫn địa lý Buôn Ma Thuột nào được nộp trước/được đăng ký trước ngày nộp đơn của người này.

Đánh giá vụ việc dưới góc độ pháp luật quốc tế

Có thể dễ dàng nhận thấy hành vi đăng ký nhãn hiệu Buôn Ma Thuột bởi Công ty TNHH Cà phê Buôn Ma Thuột Quảng Châu là hành vi trái với tập quán trung thực trong thương mại quốc tế. Theo Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (“Công ước Paris”)[2], mỗi nước thành viên phải dành sự bảo hộ có hiệu quả nhằm chống lại hành vi cạnh tranh không lành mạnh và các quốc gia thành viên có quyền tự do quy định trong luật pháp của mình việc chống lại hành vi đó. Điều 10bis Công ước Paris quy định rằng bất kỳ một hành động nào trái với tập quán trung thực trong công nghiệp và thương mại đều bị coi là hành động cạnh tranh không lành mạnh. Cụ thể những hành động sau đây đều phải bị ngăn cấm:

(i)         có khả năng gây nhầm lẫn dưới bất kỳ hình thức nào đối với cơ sở, hàng hóa, hoặc hoạt động sản xuất, kinh doanh của người cạnh tranh;

(ii)         chỉ dẫn sai lệch trong hoạt động thương mại có khả năng gây mất uy tín đối với cơ sở, hàng hóa, hoạt động công nghiệp hoặc thương mại của người cạnh tranh;

(iii)        các chỉ dẫn hoặc khẳng định mà việc sử dụng chúng trong hoạt động thương mại có thể gây nhầm lẫn cho công chúng về bản chất, quá trình sản xuất, tính chất, tính thích hợp để sử dụng hoặc số lượng hàng hóa.

Điều 10ter Công ước Paris quy định các nước thành viên của Liên minh có trách nhiệm đảm bảo cho công dân các nước thành viên khác của Liên minh công cụ pháp lý thích hợp để ngăn chặn có hiệu quả tất cả các hành động nêu tại điều 10bis nêu trên. Điều 10ter còn quy định các nước có trách nhiệm đưa ra các biện pháp cho phép liên đoàn, hiệp hội đại diện cho quyền lợi của các nhà sản xuất, hoặc các thương nhân, được kiện tại tòa án hoặc trước các cơ quan hành chính nhằm mục đích ngăn chặn các hành động trái với tập quán trung thực. 

Hiệp định về các khía cạnh có liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (hay được gọi tắt là Hiệp định TRIPs) được ra đời trong bối cảnh cả thế giới đều thừa nhận có mối liên hệ ngày càng tăng giữa sở hữu trí tuệ và thương mại. Bảo hộ sở hữu trí tuệ có tầm quan trọng rất lớn đối với hoạt động thương mại và đầu tư, vì vậy, việc bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ sẽ “góp phần thúc đẩy cải tiến, chuyển giao và phổ biến công nghệ, mang lại lợi ích cho cả người sáng tạo và người sử dụng, cũng như lợi ích kinh tế – xã hội nói chung và đảm bảo cân bằng giữa quyền và nghĩa vụ”. Để đáp ứng đòi hỏi ấy, cùng với sự ra đời của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào năm 1995[3], ngày 15/04/1994 Hiệp định TRIPs đã được ký kết và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/1995.

Liên quan đến vụ việc trên, điều 22 Hiệp định TRIPs quy định:

(i)         chỉ dẫn địa lý là những chỉ dẫn về hàng hóa bắt nguồn từ lãnh thổ của một nước thành viên hoặc từ khu vực hay địa phương thuộc lãnh thổ đó, có chất chất lượng, uy tín hoặc đặc tính nhất định chủ yếu do xuất xứ địa lý đó quyết định;

(ii)         các nước thành viên phải quy định các biện pháp pháp lý để các bên liên quan ngăn ngừa: (a) việc sử dụng bất kỳ phương tiện nào để gọi tên hoặc giới thiệu hàng hóa nhằm chỉ dẫn hoặc gợi ý rằng hàng hóa đó bắt nguồn từ một khu vực địa lý khác với xuất xứ thực, với cách thức lừa dối công chúng về xuất xứ địa lý của hàng hóa; (b) bất kỳ một hành vi sử dụng nào cấu thành một hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo điều 10bis Công ước Paris.

(iii)        Mỗi nước thành viên phải, mặc nhiên nếu pháp luật quốc gia cho phép như vậy hoặc theo yêu cầu của bên liên quan, từ chối hoặc hủy bỏ hiệu lực đăng ký nhãn hiệu có chứa hoặc được cấu thành bằng một chỉ dẫn địa lý dùng cho hàng hóa không bắt nguồn từ lãnh thổ tương ứng, nếu việc sử dụng chỉ dẫn đó trên hàng hóa tại nước thành viên đó khiến cho công chúng hiểu sai về xuất xứ thực.

Như vậy, dưới góc độ pháp luật quốc tế, hành vi cố ý đăng ký nhãn hiệu Buôn Ma Thuột của Công ty TNHH Cà phê Buôn Ma Thuột Quảng Châu đã xâm phạm nghiêm trọng các nguyên tắc căn bản của pháp luật quốc tế, cụ thể gồm: cạnh tranh không lành mạnh, xác lập quyền sở hữu công nghiệp theo cách không trung thực (bad faith) trái với tập quán thương mại trung thực của thế giới, cố ý làm cho công chúng hiểu sai về xuất xứ trung thực của cà phê Buôn Ma Thuột.

Đánh giá vụ việc theo pháp luật Trung Quốc

Trước hết, chúng ta cần thấy rằng cả Trung Quốc và Việt Nam đều là thành viên của Công ước Paris và WTO, do vậy, Trung Quốc (kể cả Việt Nam và các thành viên WTO khác) đều có nghĩa vụ phải tuân thủ các quy định của Công ước Paris và Hiệp định TRIPs.

Cụ thể liên quan đến trường hợp đăng ký trái phép Buôn Ma Thuột của Công ty TNHH Cà phê Buôn Ma Thuột Quảng Châu, theo nguyên tắc cam kết chung nêu trong Công ước Paris và TRIPs, Trung Quốc có nghĩa vụ và đương nhiên phải có nghĩa vụ (i) xây dựng các chế định pháp lý trong luật pháp quốc gia của mình nhằm chống lại hành vi cạnh tranh không lành mạnh, hành vi không trung thực (bad faith) của bất kỳ cá nhân hoặc tổ chức nào, và (ii) biện pháp thực thi rõ ràng và hiệu quả nhằm đảm bảo chủ sở hữu đích thực của cà phê Buôn Ma Thuột được quyền tiến hành các biện pháp pháp lý để hủy bỏ hiệu lực của 2 nhãn hiệu Buôn Ma Thuột.   

Về nghĩa vụ đảm bảo bằng công cụ pháp lý có hiệu quả nhằm ngăn chặn hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo Công ước Paris, Điều 41 Luật nhãn hiệu Trung Quốc quy định:

Trường hợp một nhãn hiệu đã đăng ký vi phạm các quy định tại điều 10, 11 & 12 của luật này, hoặc việc đăng ký có dấu hiệu lừa đảo hoặc cạnh tranh không lành mạnh, Cơ quan nhãn hiệu phải hủy bỏ nhãn hiệu đã đăng ký đó; và bất kỳ tổ chức hoặc cá nhân nào cũng có quyền yêu cầu Ban giải quyết tranh chấp nhãn hiệu ra phán quyết hủy bỏ nhãn hiệu đăng ký đó

Trường hợp một nhãn hiệu đã đăng ký vi phạm các quy định tại điều 13, 15, 16 & 31 của luật này, thì bất kỳ chủ nhãn hiệu khác hoặc bên thứ ba có liên quan có quyền, trong thời hạn 5 năm kể từ ngày đăng ký, gửi yêu cầu lên Ban giải quyết tranh chấp nhãn hiệu để ra phán quyết hủy bỏ nhãn hiệu đã đăng ký đó. Nếu nhãn hiệu nổi tiếng đã bị đăng ký không trung thực (bad faith), chủ sở hữu đích thực của nhãn hiệu không bị hạn chế bởi thời hiệu 5 năm này

Ngoài các trường hợp được quy định ở 2 đoạn trên, bất kỳ người nào tranh chấp với một nhãn hiệu đã đăng ký cũng có quyền, trong thời hạn 5 năm kể từ nhãn hiệu được phê duyệt đăng ký, nộp hồ sơ yêu cầu Ban giải quyết tranh chấp nhãn hiệu để phán xét

Ban giải quyết tranh chấp nhãn hiệu phải, sau khi nhận được hồ sơ yêu cầu hủy bỏ, thông báo cho các bên liên quan và yêu cầu họ trả lời kèm theo bằng chứng trong thời hạn quy định[4]

Về nghĩa vụ đảm bảo công chúng không thể bị nhầm lẫn về nguồn gốc thương mại do hành vi sử dụng chỉ dẫn gây hiểu sai lệch về nguồn gốc hàng hóa/dịch vụ theo Công ước Paris, Điều 10 Luật nhãn hiệu Trung Quốc quy định: 

Tên địa danh ở cấp huyện trở lên và tên địa danh nước ngoài mà được biết đến rộng rãi bởi công chúng sẽ không được phép đăng ký làm nhãn hiệu, nhưng các tên địa danh này nếu có ý nghĩa khác hoặc là một phần của nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận thì vẫn được đăng ký độc quyền. Trường hợp nhãn hiệu đang sử dụng các tên địa danh mà đã được phê duyệt hoặc đã được đăng ký thì vẫn tiếp tục có hiệu lực”[5].

Về nghĩa vụ tuân thủ quy định yêu cầu nước thành viên phải có biện pháp pháp lý ngăn ngừa việc sử dụng chỉ dẫn lừa dối công chúng về xuất xứ địa lý của hàng hóa theo điều 22 Hiệp định TRIPs, Điều 16 Luật nhãn hiệu Trung Quốc năm 2001 quy định:

Trường hợp một nhãn hiệu có chứa chỉ dẫn địa lý liên quan đến loại hàng hóa mà nhãn hiệu đó được sử dụng, mà hàng hóa đó không xuất phát từ khu vực đó và gây lừa dối công chúng thì nó phải bị từ chối đăng ký và bị cấm sử dụng, tuy nhiên, nếu nhãn hiệu nào được đăng ký dưới dạng thiện chí (good faith) thì vẫn được giữ nguyên hiệu lực.

Chỉ dẫn địa lý như đề cập ở trên có nghĩa là dấu hiệu chỉ dẫn xuất xứ của hàng hóa mà chất lượng đặc thù, danh tiếng hoặc các đặc tính khác của hàng hóa đó về cơ bản có được là do các yếu tố tự nhiên và con người của khu vực đó quyết định[6].

Như vậy, với tư cách là một thành viên của WTO và dưới góc độ pháp luật quốc gia, các quy định nêu trên trong Luật nhãn hiệu Trung Quốc năm 2001 rõ ràng cho thấy hành vi cố ý đăng ký nhãn hiệu Buôn Ma Thuột đã cấu thành: (i) hành vi cạnh tranh không lành mạnh, đi ngược lại với tập quán kinh doanh trung thực của thế giới, và (ii) hành vi đó hiển nhiên đang làm công chúng hiểu lầm và bị lừa dối về xuất xứ địa lý trung thực của cà phê BUÔN MA THUỘT.  

Đánh giá khả năng thắng kiện trong việc khiếu kiện hủy bỏ 2 nhãn hiệu cà phê Buôn Ma Thuột theo pháp luật nhãn hiệu Trung Quốc

a.     Về tư cách nộp đơn khiếu kiện

Theo quy định của Điều 41 Luật nhãn hiệu Trung Quốc (đoạn 1 và đoạn 2), bất kỳ tổ chức, cá nhân hoặc chủ nhãn hiệu hoặc bất kỳ bên có liên quan đều có quyền yêu cầu hủy bỏ hiệu lực 2 nhãn hiệu cà phê Buôn Ma Thuột theo các đăng ký số 7611987 và 7970830. Nói một các khác, UBND tỉnh Đắk Lắk, Hiệp hội cà phê Buôn Ma Thuột hoặc bất kỳ thành viên nào được phép sử dụng chỉ dẫn địa lý cà phê Buôn Ma Thuột cũng có quyền nộp đơn yêu cầu hủy bỏ hiệu lực 2 nhãn hiệu trên.

Và mặt khác, vì UBND tỉnh Đắk Lắk đã có công văn 5062/UBND-TH ủy quyền cho Hiệp hội cà phê Buôn Ma Thuột (Hiệp hội) được tham gia với tư cách là chủ đơn khiếu kiện và đăng ký quốc tế thương hiệu cà phê Buôn Ma Thuột nên Hiệp hội đứng đơn yêu cầu hủy bỏ tại Trung Quốc là phù hợp với luật nhãn hiệu Trung Quốc.

Theo điều 12 của Bản quy tắc giải quyết tranh chấp nhãn hiệu được ban hành ngày 17/09/2002 của Bộ Công thương Trung Quốc (“Bản quy tắc”) thì trường hợp người nước ngoài hoặc tổ chức nước ngoài, không cư trú hoặc không có địa điểm kinh doanh tại Trung Quốc, mà có yêu cầu hủy bỏ nhãn hiệu đăng ký thì bắt buộc phải chỉ định một công ty luật của Trung Quốc có trình độ liên quan và được cấp phép đại diện tại Trung Quốc thay mặt mình nộp hồ sơ khiếu kiện.

b.     Về vấn đề thời hiệu khiếu kiện   

Thời hiệu nộp đơn khiếu kiện là một vấn đề rất quan trọng trong tranh tụng nói chung và ở Trung Quốc nói riêng vì Ban giải quyết tranh chấp nhãn hiệu chỉ thụ lý đơn khiếu kiện (nếu viện dẫn đến điều luật có nói đến thời hạn phải nộp đơn) được nộp trong thời hạn quy định đó. Ví dụ, điều 16 Luật nhãn hiệu Trung Quốc chỉ được áp dụng nếu Hiệp hội nộp đơn khiếu kiện tại Ban giải quyết tranh chấp nhãn hiệu trước ngày 13/11/2015 và 13/06/2016 tương ứng.

Vì điều 16 Luật nhãn hiệu Trung Quốc liên quan trực tiếp đến hành vi đăng ký nhãn hiệu xung đột với chỉ dẫn địa lý của người khác do vậy chúng tôi xác định rằng đây là một trong các căn cứ pháp lý quan trọng nhất mà Hiệp hội cần phải lưu ý và viện dẫn áp dụng.

c.     Vài nét về Ban giải quyết tranh chấp nhãn hiệu và quy trình giải quyết   

Ban giải quyết tranh chấp nhãn hiệu của Trung Quốc (“TRAB”) là một cơ quan trực thuộc Bộ Công thương Trung Quốc và là một cơ quan hoàn toàn độc lập với Cơ quan nhãn hiệu của Trung Quốc (“CTMO”) – Cơ quan đã cấp 2 đăng ký nhãn hiệu Buôn Ma Thuột cho Công ty TNHH cà phê Buôn Ma Thuột Quảng Châu.

Theo Luật nhãn hiệu Trung Quốc 2001, Quy chế hướng dẫn thi hành luật này và Bản quy tắc thì TRAB chịu trách nhiệm thụ lý và giải quyết các tranh chấp nhãn hiệu trong đó bao gồm tranh chấp liên quan đến việc hủy bỏ hiệu lực nhãn hiệu đã đăng ký được quy định tại Điều 41 Luật nhãn hiệu năm 2001.

TRAB phải xét xử các tranh chấp nhãn hiệu bằng văn bản trên cơ sở bằng chứng của các bên và phải tuân theo luật hiện hành, các bên tham gia vụ việc đều có quyền bình đẳng như nhau và mọi bằng chứng, căn cứ, lập luận đều phải được thể hiện bằng văn bản.

Theo điều 23 & 24 của Bản Quy tắc, các bên đều có quyền bổ sung tài liệu bằng chứng nhưng việc bổ sung đó phải không muộn hơn 3 tháng kể từ ngày nộp hồ sơ hủy đối với nguyên đơn hoặc thời hạn 3 tháng kể từ ngày bị đơn nhận được văn bản từ TRAB thông báo có yêu cầu hủy nhãn hiệu của nguyên đơn.

Tùy theo tính chất phức tạp của vụ việc, TRAB có thể lập một hội đồng xét xử chỉ gồm 1 hoặc 3 chuyên gia trở lên, có quyền hạn như nhau, và trong một số trường hợp, hội đồng này có thể nhiều hơn 3 chuyên gia. Việc lập hội đồng này sẽ được thông báo cho các bên liên quan. Điều 45 của Bản quy tắc cũng lưu ý việc xét xử có thể được mở công khai theo yêu cầu của bên liên quan hoặc tùy theo tình tiết của vụ việc.

Quy tắc về chứng cứ được quy định tại Chương V, trong đó quy định chứng cứ gồm văn bản, tài liệu, ấn phẩm nghe nhìn, bằng chứng bằng miệng của nhân chứng, tuyên bố/lập luận và đánh giá kết luận của các bên. Một số bằng chứng được coi là hiển nhiên không cần chứng minh như sự việc đã biết rộng rãi, sự kiện được suy luận từ quy luật, sự việc đã được chứng minh theo luật, sự kiện được suy luận từ kinh nghiệm hoặc quy luật của cuộc sống hàng ngày (điều 75).

Mọi bằng chứng bằng văn bản đều phải là bản gốc, trường hợp không cung cấp bản gốc thì phải cung cấp bản sao có chứng thực sao y từ bản chính. Các tài liệu cung cấp bằng tiếng nước ngoài đều phải được dịch sang tiếng Trung khi nộp cho TRAB mới được coi là hợp lệ (điều 82)

Theo điều 95 của Bản Quy tắc, TRAB sẽ đánh giá hiệu lực của các bằng chứng bằng văn bản theo nguyên tắc sau: (i) tài liệu/văn kiện của các cơ quan Nhà nước hoặc cơ quan có thẩm quyền khác tùy theo chức năng và thẩm quyền sẽ có giá trị ưu thế, (ii) kết luận đánh giá, tài liệu lưu trữ và các bằng chứng tài liệu được công chứng sẽ chiếm ưu thế hơn so với các chứng cứ khác, (iii) tài liệu gốc được ưu tiên hơn bản sao

Theo thống kê của Trung Quốc, năm 2009, TRAB đã xử lý tổng cộng 37,002 hồ sơ khiếu nại trong đó có 28,594 khiếu nại liên quan đến từ chối bảo hộ. Tuy nhiên, do số lượng đơn khiếu nại và đơn yêu cầu hủy bỏ ngày càng tăng nên thực tế cho thấy phải mất từ 24 đến 36 tháng TRAB mới có thể ban hành quyết định giải quyết yêu cầu hủy hiệu lực nhãn hiệu.

Theo điều 43 Luật nhãn hiệu Trung Quốc năm 2001, trong trường hợp TRAB ban hành phán quyết mà một trong các bên không đồng ý với phán quyết đó thì trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận được phán quyết, bên đó có quyền khởi kiện ra tòa án nhân có thẩm quyền của Trung Quốc xét xử theo luật định.

Như vậy, toàn bộ quá trình xét xử của TRAB mang bản chất là một khiếu nại (khiếu kiện) hành chính và phán quyết của TRAB mang tính chất một quyết định hành chính (tương tự như luật Việt Nam, nó vẫn có thể tiếp tục là đối tượng xét xử tại hệ thống tòa án). 

d.     Đánh giá căn cứ pháp lý và bằng chứng phục vụ việc khiếu kiện hủy 

Từ việc đánh giá và phân tích toàn diện các khía cạnh pháp lý của luật pháp quốc tế và luật pháp Trung Quốc nêu trên, chúng tôi nhận thấy các căn cứ pháp lý dưới đây đang ủng hộ cho Quý Hiệp hội:

(i)         Buôn Ma Thuột là tên địa danh của Việt Nam và được biết đến rộng rãi bởi công chúng

Điều 10 Luật nhãn hiệu Trung Quốc đã xác định 2 điều kiện để việc cấp đăng ký nhãn hiệu phải bị từ chối gồm tên địa danh nước ngoài và được biết rộng rãi bởi công chúng, theo đó, chúng tôi có thể tư vấn và hỗ trợ Quý Hiệp hội thu thập bằng chứng và chứng minh theo các luận điểm sau:

  • Buôn Ma Thuột là một địa danh nổi tiếng vì nó là thành phố trực thuộc tỉnh Đắk Lắk, Việt Nam và có lịch sử lâu đời;
  • Buôn Ma Thuột là thủ phủ của cà phê Việt Nam, nơi có diện tích gieo trồng cà phê và sản lượng cà phê chế biến chiếm gần 50% của cả nước;
  • Buôn Ma Thuột chiếm gần 50% sản lượng cà phê xuất khẩu của cả nước và được xuất khẩu tới hơn 50 lãnh thổ trên toàn thế giới;
  • Trung Quốc là 1 trong 10 thị trường nhập khẩu cà phê lớn nhất của Việt Nam, trong đó có cà phê Buôn Ma Thuột. Việt Nam luôn đứng vị trí thứ 2 thế giới trong số các quốc gia về xuất khẩu cà phê lớn nhất với kim ngạch xuất khẩu trên 2 tỷ đô la Mỹ/năm;
  • Bằng chứng và thông tin khác được xác nhận bởi các tổ chức, hiệp hội cà phê thế giới, các nhà sản xuất, cơ sở chế biến quy mô lớn, triển lãm quốc tế,…liên quan đến Buôn Ma Thuột để chứng minh Buôn Ma Thuột không thể không được biết tới rộng rãi bởi công chúng Trung Quốc.
  • Buôn Ma Thuột không phải là một từ có ý nghĩa khác trong tiếng Trung hoặc là một địa danh của Trung Quốc.

(ii)         Buôn Ma Thuột là chỉ dẫn địa lý được bảo hộ ở Việt Nam từ năm 2005  

Theo tinh thần của Điều 16 Luật nhãn hiệu Trung Quốc, Hiệp hội có thể dễ dàng chứng minh được các khía cạnh sau:

  • 2 nhãn hiệu Buôn Ma Thuột theo các đăng ký số 7611987 và 7970830 (như nêu tại Mục I của Đề xuất này) của Công ty TNHH cà phê Buôn Ma Thuột Quảng Châu rõ ràng và hiển nhiên chứa chỉ dẫn địa lý Buôn Ma Thuột của Việt Nam;
  • Danh mục hàng hóa thuộc nhóm 30 được bảo hộ theo các đăng ký số 7611987 và 7970830 có sản phẩm cà phê và các sản phẩm khác có liên quan đến cà phê, do đó, rõ ràng là trực tiếp liên quan đến sản phẩm cà phê mang chỉ dẫn địa lý Buôn Ma Thuột được bảo hộ ở Việt Nam;
  • Công ty TNHH cà phê Buôn Ma Thuột Quảng Châu không phải là một doanh nghiệp của Việt Nam, không có trụ sở tại Buôn Ma Thuột, Việt Nam, không phải là thành viên của Hiệp hội, do vậy, giả định rằng Công ty này gắn một trong 2 nhãn hiệu Buôn Ma Thuột kể trên lên sản phẩm cà phê hoặc các giấy tờ giao dịch hoặc các phương tiện quảng cáo để chào bán sản phẩm cà phê Buôn Ma Thuột thì sẽ rõ ràng làm cho công chúng, khách hàng lầm tưởng rằng đó là cà phê Buôn Ma Thuột, có xuất xứ từ Buôn Ma Thuột. Nói một cách khác, việc sử dụng đó đương nhiên sẽ gây lừa dối công chúng về xuất xứ trung thực của sản phẩm, và do vậy, đáng lẽ 2 nhãn hiệu này phải bị từ chối bảo hộ và bị cấm sử dụng.
  • Buôn Ma Thuột cho cà phê nhân được bảo hộ tại Việt Nam với tư cách là chỉ dẫn địa lý từ ngày 14/10/2005 theo Quyết định số 806/QĐ-SHTT. Chỉ dẫn địa lý Buôn Ma Thuột là tài sản của nhà nước Việt Nam, do vậy, việc Công ty TNHH cà phê Buôn Ma Thuột Quảng Châu tự ý đăng ký 2 nhãn hiệu Buôn Ma Thuột là xâm phạm và tài sản của Việt Nam, mạo danh Việt Nam, làm cho công chúng hiểu nhầm về nguồn gốc thương mại, giá trị lịch sử, giá trị văn hóa của vùng đất Buôn Ma Thuột nổi tiếng thế giới về sản phẩm cà phê.  

·       Hành vi cố ý đăng ký 2 nhãn hiệu Buôn Ma Thuột là hành vi trái với tập quán trung thực và lành mạnh được nêu trong Công ước Paris, Hiệp TRIPs và Luật nhãn hiệu nhãn hiệu 2001 của Trung Quốc như đã phân tích ở các phần trên.

·       Về khía cạnh “thiện ý” hay “trung thực” (good faith) như quy định ở đoạn cuối của điều 16 Luật nhãn hiệu Trung Quốc, nếu Công ty TNHH cà phê Buôn Ma Thuột Quảng Châu viện dẫn và phản tố ở khía cạnh này, Hiệp hội có thể phản bác lập luận này (nếu có) của đối phương dựa trên các căn cứ sau:

        Good Faith là một thuật ngữ trừu tượng và toàn diện bao hàm một niềm tin và động cơ chân thành mà không có tính ác tâm, ác ý và không mang tính lừa gạt người khác[7]. Điều 7(1)[8] của Công ước Viên của Liên hợp quốc về mua bán hàng hóa quốc tế năm 1980 (CISG) quy định về good faith, được nhiều học giả bình luận về cơ bản cũng mang ý nghĩa tương tự như vậy[9]. Điều 6ter.1(c) Công ước Paris, Điều 24.5 Hiệp định TRIPs đều có quy định về Good Faith, trong đó đặc biệt là điều 24.5 Hiệp định TRIPs quy định đối với nhãn hiệu đã được nộp đơn đăng ký hoặc đã được đăng ký một cách có thiện ý (Good Faith) hoặc đối với các quyền đối với nhãn hiệu đạt được thông qua sử dụng có thiện ý (Good Faith) thuộc một trong hai trường hợp sau đây:

–       Trước thời điểm thi hành các quy định này ở nước thành viên đó; hoặc

–        Trước khi chỉ dẫn địa lý liên quan được bảo hộ ở nước xuất xứ

thì các biện pháp được áp dụng để thi hành quy định trên không được làm ảnh hưởng tới khả năng được đăng ký hoặc hiệu lực đăng ký của nhãn hiệu, hoặc quyền sử dụng nhãn hiệu, với lý do nhãn hiệu nói trên trùng hoặc tương tương tự với chỉ dẫn địa lý

Vì Trung Quốc là thành viên của WTO từ 11/12/2001, ngay cả trong trường hợp áp dụng các quy tắc ngoại lệ của điều 24.5 được dẫn chiếu tới điều 65.1,2,3 của Hiệp định TRIPs, thì cũng không có căn cứ để áp dụng khía cạnh “Good Faith” theo đoạn cuối điều 16 Luật nhãn hiệu Trung Quốc (vì đã qua thời hạn chuyển tiếp và chỉ dẫn địa lý Buôn Ma Thuột được bảo hộ ở Việt Nam từ năm 2005).

        Mặt khác, như đã chứng minh và phân tích ở trên, hành vi của Công ty TNHH Cà phê Buôn Ma Thuột Quảng Châu, rõ ràng và không thể chối cãi, mang bản chất của hành vi không trung thực, lừa dối cơ quan nhãn hiệu, lừa dối công chúng, cố ý gây nhầm lẫn cho công chúng về xuất xứ trung thực của cà phê Buôn Ma Thuột, và đương nhiên phải được coi la hành vi trái với tập quán trung thực trong thương mại quốc tế, trái với nguyên tắc nêu tại Luật Nhãn hiệu Trung Quốc, hay nói một cách khác, hành vi đó rõ ràng và hiển nhiên, bị coi hành vi “Bad Faith” (không trung thực), đối nghịch với nguyên tắc “Good Faith” nêu trong các Công ước quốc tế và luật pháp Trung Quốc.

Ngoài 2 căn cứ pháp lý chính nêu trên, Hiệp hội còn có thể vận dụng và sử dụng bổ trợ thêm các căn cứ pháp lý dưới đây:

(iii)        Hành vi cố ý đăng ký 2 nhãn hiệu Buôn Ma Thuột của Công ty TNHH cà phê Buôn Ma Thuột Quảng Châu là hành vi không trung thực (bad faith), xâm phạm nguyên tắc theo quy định tại điều 31 Luật nhãn hiệu Trung Quốc

  • Điều 31 Luật nhãn hiệu Trung Quốc quy định đơn đăng ký nhãn hiệu không được gây tổn hại đối với các quyền được xác lập từ trước của người khác, cũng như không được cạnh tranh không lành mạnh bằng cách đăng ký chiếm đoạt nhãn hiệu của người khác đã sử dụng có danh tiếng[10];
  • Theo thực tiễn giải quyết tranh chấp nhãn hiệu ở Trung Quốc, chúng tôi cho rằng chúng ta có thể cung cấp tài liệu và chứng minh được các khía cạnh sau: (i) chỉ dẫn địa lý Buôn Ma Thuột đã và đang được sử dụng và đã giành được mức độ ảnh hưởng (danh tiếng) nhất định ở Trung Quốc trước ngày nộp đơn 11/08/2009 và 05/01/2010 (các ngày mà Công ty TNHH cà phê Buôn Ma Thuột Quảng Châu nộp đơn lên CTMO), 2 nhãn hiệu này đương nhiên và không thể chối cãi là tương tự gây nhầm lẫn với chỉ dẫn địa lý Buôn Ma Thuột của Việt Nam, (iii) hàng hóa mang 2 nhãn hiệu giả mạo trùng và tương tự với sản phẩm cà phê nhân mang chỉ dẫn địa lý Buôn Ma Thuột được bảo hộ của Việt Nam, và (iv) Công ty TNHH cà phê Buôn Ma Thuột Quảng Châu có hành vi không trung thực (bad faith);
  • Các bằng chứng thu thập (phải trước ngày 11/08/2009 nói trên) chứng minh theo các điểm trên có thể bao gồm: bằng chứng chứng minh mức độ nhận biết của công chúng liên quan đến nhãn hiệu (những người có liên quan đến sản phẩm cà phê), bằng chứng chỉ rõ thời gian, lịch sử sử dụng và khu vực địa lý sử dụng chỉ dẫn Buôn Ma Thuột, bằng chứng chứng minh thời gian, phương thức, phạm vi và khu vực địa lý liên quan tới việc quảng bá chỉ dẫn địa lý Buôn Ma Thuột, các bằng chứng khác chứng tỏ danh tiếng của chỉ dẫn địa lý Buôn Ma Thuột ở Trung Quốc.
  • Về việc chứng minh hành vi không trung thực (bad faith) của Công ty TNHH cà phê Buôn Ma Thuột Quảng Châu, chúng tôi nhận thấy, theo nguyên tắc quy định tại điều 10bis Công ước Paris, mọi hành vi như cố ý làm công chúng bị nhầm lẫn về nguồn gốc thương mại (xuất xứ của hàng hóa), sử dụng các chỉ dẫn sai lệch làm công chúng hiểu lầm về bản chất, tính chất đều bị coi là các hành vi trái với tập quán trung thực trong thương mại quốc tế (tức là bad faith), và rõ ràng có đủ cơ sở chứng minh hành vi này là hành vi bad faith theo điều 31 của Luật nhãn hiệu Trung Quốc.

 

(iv)       2 Nhãn hiệu Buôn Ma Thuột phải bị hủy bỏ và cấm sử dụng vì xâm phạm điều 15 Luật nhãn hiệu Trung Quốc

Điều 15 Luật nhãn hiệu Trung Quốc năm 2001 quy định “nếu bất kỳ đại lý hoặc đại diện nào đăng ký, dưới tên của mình, nhãn hiệu của người khác mà anh ta làm đại lý hoặc đại diện và không có sự cho phép của người đó, và người này phản đối thì nhãn hiệu phải bị từ chối và bị cấm sử dụng[11]

Theo Hướng dẫn tại điểm 12 & 13 của Tòa án tối cao Trung Quốc ngày 20/04/2010 về một số vấn đề liên quan tới việc xét xử các vụ việc khiếu kiện hành chính về nhãn hiệu, khái niệm “đại lý” hoặc “đại diện” được hiểu theo nghĩa rộng, theo đó đại lý hoặc đại diện này, với tư cách là người phân phối, đã đăng ký nhãn hiệu dưới tên của mình mà không có sự cho phép của chủ nhãn hiệu, thì tòa án phải đánh giá hành vi đó là hành vi đăng ký vội vã trái phép. Hành vi đăng ký vội vã trái phép xảy ra khi quan hệ đại diện hoặc đại lý vẫn đang tiếp tục đàm phán, cụ thể việc đăng ký vội vã này xảy ra sớm hơn thời điểm hoàn thành mối quan hệ đại diện hoặc đại lý đó, và hành vi này phải xem như là hành vi đăng ký vội vã bởi đại lý hoặc đại diện đó. Và theo đó hành vi được xác định đã thuộc phạm vi cấm nêu tại điều 15 Luật nhãn hiệu Trung Quốc 2001.

Theo Báo Tiền Phong số ra ngày 16/09/2011 với tựa đề “Vì sao Việt Nam mất hai thương hiệu cà phê nổi tiếng”, anh Nguyễn Văn Thắng, cán bộ quản lý XNK của Công ty cà phê An Thái, xác định công ty An Thái từng có mối quan hệ làm ăn với Công ty TNHH Cà phê Buôn Ma Thuột Quảng Châu. Vì muốn tạo dựng uy tín, công ty ở Quảng Châu đặt vấn đề liên kết với Công ty An Thái để nhập hàng cà phê 3 trong 1 lâu dài. Nhưng không rõ vì lý do gì họ chỉ nhập 3 container rồi thôi luôn.

Thông tin Công ty An Thái cho biết có thể nên được được khai thác triệt để làm rõ mối quan hệ giữa Công ty TNHH Cà phê Buôn Ma Thuột Quảng Châu với Công ty cà phê An Thái thông qua email, hợp đồng, trao đổi và các tài liệu khác nhằm chứng minh và áp dụng quy định cấm tại điều 15 của Luật nhãn hiệu Trung Quốc.

Ngoài công việc chính yêu cầu hủy bỏ hiệu 2 nhãn hiệu Buôn Ma Thuột bị đăng ký trái phép, Hiệp hội cần lưu ý nghiên cứu và tiến hành các biện pháp pháp lý cần thiết để yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của Trung Quốc buộc Công ty TNHH Cà phê Buôn Ma Thuột Quảng Châu phải loại bỏ cụm từ “Buôn Ma Thuột” trong cấu thành tên của công ty này để tránh mọi sự hiểu lầm về nguồn gốc Buôn Ma Thuột của cà phê Việt Nam.

Tóm tại, bằng những phân tích trên có đủ căn cứ pháp lý để Hiệp hội giành được quyết định thắng được ban hành bởi TRAB.

 


[1] Xem thêm https://en.wikipedia.org/wiki/Budweiser_trademark_dispute

[2] Công ước Paris được thông qua ngày 20/03/1883 và được tổng sửa đổi vào 28/09/1979. Tính đến ngày 15/01/2002 có tổng cộng 162 nước là thành viên của Công ước này. Việt Nam tham gia Công ước này ngày 08/03/1949 (dưới chế độ cũ) và tuyên bố tiếp tục tham gia ngày 30/04/1975. Trung Quốc tham gia Công ước này từ 19/12/1984, có hiệu lực từ 19/03/1985. Nguồn Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO): http://www.wipo.int

[3] Trung Quốc là thành viên của WTO kể từ ngày 11/12/2001. Việt Nam là thành viên của WTO kể từ ngày 11/01/2007. Tính đến ngày 23/07/2008 có tổng cộng 153 quốc gia là thành viên của WTO. Nguồn WTO: http://www.wto.org

[4] Nguyên văn tiếng Anh: “Article 41 Where a registered trademark stands in violation of the provisions of Articles 10, 11 and 12 of this Law, or the registration of a trademark was acquired by fraud or any other unfair means, the Trademark Office shall cancel the registered trademark in question; and any other organization or individual may request the Trademark Review and Ad judication Board to make an adjudication to cancel such a registered trademark.

Where a registered trademark stands in violation of the provisions of Articles l3, l5, l6 and 3l of this Law, any other trademark owner concerned or interested party may, within five years from the date of the registration of the trademark, file a request with the Trademark Review and Adjudication Board for adjudication to cancel the registered trademark. Where a well-known mark is registered in bad faith, the genuine owner thereof shall not be restricted by the five-year limitation.

In addition to those cases as provided for in the preceding two paragraphs, any person disputing a registered trademark may, within five years from the date of approval of the trademark registration, apply to the Trademark Review and Adjudication Board for adjudication.

The Trademark Review and Adjudication Board

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *