Tiếng Việt English  
Home Our People Experiences Associations Contact us
Đề xuất sửa đổi chế định Nhãn Hiệu Nổi Tiếng để đảm bảo vừa tuân thủ cam kết quốc tế vừa cân bằng lợi ích giữa chủ thể quyền và xã hội
(Ngày đăng: 2021-02-08)

Đề xuất sửa đổi chế định Nhãn Hiệu Nổi Tiếng để đảm bảo vừa

tuân thủ cam kết quốc tế vừa cân bằng lợi ích giữa chủ thể quyền và xã hội

 

Email: vinh@bross.vn

 

  • Điều 4.20 nên được sửa lại thành ”Nhãn Hiệu Nổi Tiếng là nhãn hiệu có danh tiếng và được biết đến rộng rãi bởi bộ phận công chúng có liên quan tại Việt Nam”

 

Nên loại bỏ điểm (i) khoản 2 ra khỏi điều 74 và gộp nội dung điều này kèm theo sửa đổi thích hợp với điểm d) khoản 1 điều 129 để giải quyết được: (a) chấm dứt tình trạng “tự phong” Nhãn Hiệu Nổi Tiếng làm căn cứ từ chối các nhãn hiệu xin đăng ký, (b) bảo hộ Nhãn Hiệu Nổi Tiếng thông qua cả xác lập quyền và xử lý hành vi xâm phạm quyền, (c) đặt ra nguyên tắc về điều kiện bảo hộ, phạm vi bảo hộ và sự khác nhau giữa Nhãn Hiệu Nổi Tiếng không đăng ký và Nhãn Hiệu Nổi Tiếng đã đăng ký ở Việt Nam.

 

  • Bổ sung thêm Điều 75a trên cơ sở gộp điều 74.2(i) và điều 129.1(d)

 

Điều 75a. Nguyên tắc bảo hộ Nhãn Hiệu Nổi Tiếng

1. Nếu bất kỳ quyền đối với nhãn hiệu được biết tới rộng rãi bởi công chúng liên quan tại Việt Nam bị xâm phạm thì chủ nhãn hiệu đó có thể thực hiện các quy định có liên quan của luật này để yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu được cho là nổi tiếng đó.

2. Việc xem xét công nhận Nhãn Hiệu Nổi Tiếng chỉ được tiến hành trên cơ sở có yêu cầu của các bên liên quan và dựa trên thông tin, tài liệu và chứng cứ của mỗi vụ việc.

3. Trong quá trình thẩm định đơn đăng ký nhãn hiệu, yêu cầu chấm dứt hoặc hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ nhãn hiệu mà có đơn yêu cầu của một trong các bên liên quan yêu cầu công nhận Nhãn Hiệu Nổi Tiếng theo Điều 75a của Luật này thì Cục SHTT có thể, tùy theo sự việc và các bằng chứng cụ thể của vụ việc đó, xem xét công nhận hoặc không công nhận nhãn hiệu trong vụ việc là nổi tiếng

4. Trong quá trình xử lý hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu hoặc các tranh chấp khác liên quan đến nhãn hiệu, các bên liên quan, phù hợp với quy định của Điều 75a, có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại Điều 200 Luật này công nhận hoặc không công nhận nhãn hiệu trong vụ việc là nổi tiếng.

5. Trong quá trình xét xử các tranh chấp dân sự hoặc hành chính liên quan đến nhãn hiệu, các bên liên quan có thể yêu cầu tòa án có thẩm quyền, tùy theo sự việc và các bằng chứng cụ thể của vụ việc đó, xem xét công nhận hoặc không công nhận nhãn hiệu trong vụ việc là nổi tiếng

6. Trường hợp dấu hiệu xin đăng ký là bản sao, bản bắt chước hoặc bản dịch của Nhãn Hiệu Nổi Tiếng của bên thứ ba mà Nhãn Hiệu Nổi Tiếng này chưa được đăng ký ở Việt Nam mà hàng hóa/dịch vụ gắn liền với chúng trùng hoặc tương tự, và với điều kiện có thể gây nhầm lẫn cho công chúng và gây thiệt hại đến lợi ích của chủ Nhãn Hiệu Nổi Tiếng thì dấu hiệu xin đăng ký đó phải bị từ chối và việc sử dụng nó trong thương mại sẽ bị coi là hành vi xâm phạm quyền đối với Nhãn Hiệu Nổi Tiếng.

7.Trường hợp dấu hiệu xin đăng ký là bản sao, bản bắt chước hoặc bản dịch của Nhãn Hiệu Nổi Tiếng của bên thứ ba mà Nhãn Hiệu Nổi Tiếng này đã đăng ký ở Việt Nam mà hàng hóa/dịch vụ gắn liền với chúng không trùng hoặc không tương tự, và với điều kiện có thể gây ấn tượng sai lệch cho công chúng và làm tổn hại đến lợi ích của chủ Nhãn Hiệu Nổi Tiếng thì dấu hiệu xin đăng ký đó phải bị từ chối và việc sử dụng nó trong thương mại sẽ bị coi là hành vi xâm phạm quyền đối với Nhãn Hiệu Nổi Tiếng.

 

  • Điều 75 hiện tại nên được sửa lại như sau:

 

Điều 75 (sửa đổi) – Các yếu tố phải xem xét trước khi công nhận một nhãn hiệu là nổi tiếng

  1. Mức độ biết đến hoặc công nhận nhãn hiệu bởi bộ phận công chúng có liên quan
  2. Thời gian, quy mô và khu vực địa lý của bất kỳ hoạt động sử dụng, quảng bá nhãn hiệu bao gồm quảng cáo hoặc quảng bá, giới thiệu tại các triển lãm, hội chợ đối với hàng hóa/dịch vụ mang nhãn hiệu
  3. Thời gian và khu vực địa lý mà nhãn hiệu đã được đăng ký và/hoặc đã được nộp đơn đăng ký
  4. Hồ sơ thực thực thi thành công quyền độc quyền nhãn hiệu, đặc biệt là phạm vi mà nhãn hiệu được công nhận là nổi tiếng bởi cơ quan có thẩm quyền
  5. Giá trị gắn liền với nhãn hiệu

 

  • Cơ chế phối hợp bảo hộ Nhãn Hiệu Nổi Tiếng giữa các cơ quan thực thi bao gồm cả tòa án có thể được xây dựng thành một điều luật mới, trong đó thể hiện các nội dung sau:

 

  1. Khái niệm công chúng có liên quan:
  • Người tiêu dùng có liên quan đến đến một chủng loại hàng hóa/dịch vụ nhất định mang nhãn hiệu,
  • nhà sản xuất hoặc ung ứng hàng hóa/dịch vụ đó,
  • người bán và những người khác có tham gia hoặc có liên quan đến kênh phân phối hàng hóa/dich vụ đó.
  1. Nguyên tắc xem xét quyết định công nhận Nhãn Hiệu Nổi Tiếng
  • Cục SHTT, Toà án và Thanh tra Bộ KHCN[1] là một trong ba cơ quan có thẩm quyền quyết định Nhãn Hiệu Nổi Tiếng
  • Không cơ quan nào được coi bất kỳ yếu tố nào mang tính tiên quyết, không được từ chối công nhận Nhãn Hiệu Nổi Tiếng chỉ vì lý do người nộp yêu cầu công nhận Nhãn Hiệu Nổi Tiếng không đáp ứng toàn bộ 5 yếu tố.
  • Quyết định công nhận hay không công nhận Nhãn Hiệu Nổi Tiếng là điều kiện tiên quyết để quyết định giải quyết đơn phản đối, hủy bỏ, chấm dứt hiệu lực, khởi kiện vụ án dân sự hoặc xử lý hành vi xâm phạm nhãn hiệu mà có tuyên bố là Nhãn Hiệu Nổi Tiếng
  • Bên có liên quan còn lại trong vụ việc phải được trao cơ hội phản đối bằng chứng hoặc tuyên bố cuả bên kia rằng nhãn hiệu của bên kia là nổi tiếng.

(3) Trường hợp chủ đơn không đồng ý với thông báo/quyết định từ chối của Cục SHTT mà đã khiếu nại trên cơ sở Nhãn Hiệu Nổi Tiếng thì:

  • Nộp đơn phản đối dựa trên căn cứ yêu cầu công nhận nhãn hiệu của mình là nổi tiếng cùng với nghĩa vụ chứng minh theo điều 75 sửa đổi
  • nộp đơn hủy bỏ hiệu lực nếu nhãn hiệu có trước được đăng ký chưa quá 5 năm, trừ trường hợp có động cơ bad faith
  • nộp đơn yêu cầu không công nhận nhãn hiệu có trước không đăng ký là nổi tiếng

(4) Tòa án không được tự động công nhận một nhãn hiệu là nổi tiếng ngay cả trong trường hợp một bên đồng ý với tuyên bố của bên kia rằng nhãn hiệu của bên kia là nổi tiếng. Các trường hợp được thụ lý bởi tòa:

  • Nguyên đơn khởi kiện bị đơn về hành vi xâm phạm theo Điều 75a
  • Bên liên quan khởi kiện vụ án hành chính chống lại quyết định công nhận/không công nhận của cơ quan thực thi
  • Nguyên đơn khởi kiện hành vi xâm phạm nhãn hiệu nhưng bị đơn có yêu cầu phản tố tuyên bố nhãn hiệu của nguyên đơn là bản sao, bản bắt chước hoặc là bản dịch của nhãn hiệu có trước của nó mà không đăng ký hoặc có đăng ký ở Việt Nam nhưng được xem là Nhãn Hiệu Nổi Tiếng thì tòa án sẽ phải xem xét quyết định nhãn hiệu có trước này có phải là Nhãn Hiệu Nổi Tiếng hay không
  • Nguyên đơn khởi kiện bị đơn trên cơ sở tên doanh nghiệp của bị đơn trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với Nhãn Hiệu Nổi Tiếng của nó.

 

(5) Trước khi nguyên đơn khởi kiện cáo buộc xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu mà nhãn hiệu này đã được công nhận là nổi tiếng bởi một trong các cơ quan thực thi mà bị đơn không phản đối nhãn hiệu này là nổi tiếng thì tòa án sẽ xác nhận nhãn hiệu đó là nổi tiếng. Trường hợp bị đơn phản đối thì nguyên đơn có nghĩa vụ tiếp tục phải chứng minh nhãn hiệu của mình là nổi tiếng

(6) Về trường hợp nhãn hiệu bị cho là xâm phạm trong vụ việc này mà đã được coi là nổi tiếng theo một quyết định hành chính hoặc bản án của tòa án trong một vụ việc khác thì cơ quan thực thi có thể quyết định công nhận NH trong vụ việc này là nổi tiếng nếu:

  • Vụ việc sau có tính chất tương tự với vụ việc trước
  • Bên kia không phản đối hoặc phản đối không có căn cứ

(7) Trường hợp Nhãn Hiệu Nổi Tiếng chưa đăng ký và việc sử dụng hoặc đăng ký nhãn hiệu này trong vụ tranh chấp gắn liền với hàng hóa/dịch vụ trùng hoặc tương tự như quy định tại Điều 75a.6 Luật SHTT, cơ quan thực thi đã thụ lý, có thể kết luận rằng sẽ được coi là đủ gây ra nhầm lẫn cho bộ phận công chúng có liên quan về nguồn gốc thương mại của Nhãn Hiệu Nổi Tiếng và nhãn hiệu trong vụ tranh chấp nếu có đủ căn cứ để tin rằng nhãn hiệu trong vụ tranh chấp và Nhãn Hiệu Nổi Tiếng có mối liên hệ với nhau theo cách đặc biệt thông qua sự liên tưởng về mối quan hệ công ty mẹ-con, công ty liên kết hoặc quan hệ li-xăng

(8) Trường hợp Nhãn Hiệu Nổi Tiếng đã đăng ký và việc sử dụng hoặc đăng ký nhãn hiệu trong vụ tranh chấp gắn liền với hàng hóa/dịch vụ không trùng hoặc không tương tự như quy định tại Điều 75a.6 Luật SHTT, cơ quan thực thi đã thụ lý, có thể kết luận rằng sẽ được coi là đủ gây ấn tượng sai lệch cho bộ phận công chúng có liên quan nếu có đủ căn cứ để tin rằng nhãn hiệu trong vụ tranh chấp và Nhãn Hiệu Nổi Tiếng được liên tưởng với nhau ở một mức độ đáng kể, qua đó làm yếu đi đặc tính phân biệt và làm lu mờ uy tín kinh doanh của Nhãn Hiệu Nổi Tiếng trên thị trường, hoặc lợi dụng uy tín của Nhãn Hiệu Nổi Tiếng.

(9) Trường hợp một bên trong thủ tục phản đối, chấm dứt hiệu lực, hủy bỏ hiệu lực, yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, hoặc khởi kiện yêu cầu ngăn cấm bên kia sử dụng nhãn hiệu hoặc tên doanh nghiệp trùng hoặc tương tự với Nhãn Hiệu Nổi Tiếng đã đăng ký của bên có yêu cầu đó liên quan đến sản phẩm không trùng hoặc không tương tự thì cơ quan đã thụ lý vụ tranh chấp sẽ quyết định, tùy theo từng trường hợp cụ thể, trên cơ sở xem xét toàn diện các yếu tố sau:

  • Mức độ của đặc tính phân biệt của Nhãn Hiệu Nổi Tiếng
  • Mức độ mà Nhãn Hiệu Nổi Tiếng được biết tới rộng rãi bởi bộ phận công chúng có liên quan của hàng hóa/dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc tên doanh nghiệp trong vụ kiện;
  • Mức độ của mối liên hệ giữa hàng hóa mang Nhãn Hiệu Nổi Tiếng và hàng hóa mang nhãn hiệu hoặc tên doanh nghiệp trong vụ kiện
  • Ý định của bị đơn liên quan đến việc sử dụng Nhãn Hiệu Nổi Tiếng nghiệp
  • Bất kỳ yếu tố có liên quan nào khác.

(10) Hướng dẫn yêu cầu cung cấp bằng chứng chứng minh Nhãn Hiệu Nổi Tiếng. Tài liệu bằng chứng dưới đây có thể được xem xét là bằng chứng chứng minh Nhãn Hiệu Nổi Tiếng phù hợp với Điều 75a Luật SHTT:

  • Bằng chứng chứng minh mức độ biết đến và công nhận nhãn hiệu bởi bộ phận công chúng liên quan
  • Tài liệu chứng minh quá trình sử dụng nhãn hiệu, trong đó bao gồm thông tin bằng chứng thể hiện lịch sử ra đời, phạm vi sử dụng và khu vực địa lý đã đăng ký. Đối với nhãn hiệu chưa đăng ký thuộc đối tượng yêu cầu xem xét công nhận là nổi tiếng thì tài liệu chứng minh quá trình sử dụng phải thể hiện được ít nhất 5 năm. Đối với nhãn hiệu đã đăng ký các tài liệu chứng minh này không được ít hơn 3 năm
  • Bằng chứng chứng minh quá trình, mức độ và phạm vi địa lý của bất kỳ hoạt động quảng cáo, quảng bá nhãn hiệu, trong đó đặc biệt bao gồm thông tin bằng chứng thể hiện các hoạt động bán hàng và quảng bá nhãn hiệu gồm cả chi phí để tiến hành công việc đó, phạm vi địa lý, dạng thức tiến hành quảng cáo và tần suất quảng cáo có liên quan đến nhãn hiệu
  • Bằng chứng khác chứng tỏ nhãn hiệu đã được công nhận là nổi tiếng ở bất kỳ đâu trên thế giới (nếu có)
  • Tài liệu bằng chứng khác để từ đó có thể suy luận được nhãn hiệu yêu cầu xem xét là Nhãn Hiệu Nổi Tiếng bao gồm nhưng không giới hạn ở doanh thu/doanh số, thị phần, lợi nhuận, thuế đã trả.

 

[Hết]

 

Bross & Partners có nhiều kinh nghiệm hỗ trợ khách hàng chuẩn bị và yêu cầu công nhận nhãn hiệu nổi tiếng, tự vệ chống cáo buộc xâm phạm nhãn hiệu nổi tiếng ở cả Việt Nam và nước ngoài. Nếu Quý khách hàng có nhu cầu cụ thể cần được tư vấn, vui lòng liên hệ: vinh@bross.vn; điện thoại 0903 287 057, 84-4-3555 3466; Wechat: Vinhbross2603; Skype: vinh.bross.

 

Bross & Partners, một công ty luật sở hữu trí tuệ được thành lập năm 2008, được xếp hạng nhất (Tier 1) về sở hữu trí tuệ năm 2021 bởi Tạp chí nổi tiếng Legal 500 Asia Pacific. Bross & Partners cũng thường xuyên lọt vào bảng xếp xếp hạng các công ty luật sở hữu trí tuệ hàng đầu của Việt Nam được công bố bởi Managing Intellectual Property (MIP), World Trademark Review (WTR1000), Legal 500 Asia Pacific, AsiaLaw Profiles, Asia Leading Lawyers, Asia IP và Asian Legal Business (ALB). Sở hữu năng lực chuyên môn khác biệt, Bross & Partners có thể giúp khách hàng bảo vệ hoặc tự vệ một cách hiệu quả trong các tranh chấp sở hữu trí tuệ phức tạp ở Việt Nam và nước ngoài liên quan đến quyền tác giả, quyền liên quan, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu/thương hiệu và tên miền internet.

 



[1] Nhóm nghiên cứu đề xuất chỉ nên giới hạn 3 cơ quan: Cục SHTT, Thanh tra Bộ KHCN và Tòa án là các cơ quan, tùy theo nhiệm vụ quyền hạn và chức năng của mình, là có thẩm quyền công nhận Nhãn Hiệu Nổi Tiếng thay vì quá nhiều cơ quan như quy định tại Điều 200 Luật SHTT. Tuy nhiên, Nhóm nghiên cứu đề xuất Chi Cục QLTT hoặc Thanh tra Sở KHCN các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tuy không có thẩm quyền công nhận Nhãn Hiệu Nổi Tiếng nhưng họ vẫn có thể tham gia vào các vụ việc theo 2 dạng thức: (a) tiếp nhận và kiểm tra sơ bộ hồ sơ ban đầu kèm theo chứng cứ của các bên liên quan mà có yêu cầu công nhận Nhãn Hiệu Nổi Tiếng phù hợp với 5 yếu tố theo Điều 75.2 sửa đổi, và (b) tiến hành xử lý hành vi xâm phạm Nhãn Hiệu Nổi Tiếng hoặc từ chối giải quyết yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm Nhãn Hiệu Nổi Tiếng tùy thuộc vào quyết định công nhận hoặc không công nhận Nhãn Hiệu Nổi Tiếng mà được quyết định bởi Cục SHTT hoặc Thanh tra Bộ KHCN sau khi hồ sơ yêu cầu công nhận Nhãn Hiệu Nổi Tiếng đã được xác nhận sơ bộ bởi Chi Cục QLTT hoặc Thanh tra Sở KHCN các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chuyển lên

 

Bookmark and Share
Relatednews
4 bất cập của chế định nhãn hiệu trong Luật sở hữu trí tuệ hiện hành và đề xuất sửa đổi, bổ sung
Comments on the Copyright Exceptions and Limitations Newly Incorporated into the Draft of Amendments to the Intellectual Property Law
Famous Trademark Protection Practices in the US, EU, Japan, China and Vietnam: similar or different although these countries all bound by the Paris Convention and TRIPs Agreement?
Bản chất pháp lý của Nhãn Hiệu Nổi Tiếng và bình luận chế định Nhãn Hiệu Nổi Tiếng trong Luật sở hữu trí tuệ hiện hành
Giải quyết tranh chấp liên quan đến Nhãn Hiệu Nổi Tiếng theo pháp luật và thực tiễn ở Mỹ, EU, Trung Quốc và Việt Nam: giống nhau hay khác biệt dù cùng bị ràng buộc bởi Công ước Paris và Hiệp định TRIPs?
Two Founding Partners of Bross & Partners named in the A’s List Vietnam’s Top 100 Lawyers by the Asia Business Law Journal
SƠ LƯỢC THỦ TỤC ĐĂNG KÝ NHÃN HIỆU Ở IRAQ VÀ KHU TỰ TRỊ KURDISTAN
Bàn về nghĩa vụ bảo hộ Nhãn Hiệu Nổi Tiếng của Việt Nam trên cơ sở tham chiếu pháp luật quốc tế và Khuyến Nghị Chung của WIPO năm 1999
Bross & Partners IP practice ranked for the first time as Tier 1 by the Legal 500 Asia Pacific 2021
THỦ TỤC ĐĂNG KÝ NHÃN HIỆU TẠI TỔ CHỨC SỞ HỮU TRÍ TUỆ LIÊN MINH CHÂU PHI (OAPI)

Newsletter
Guidelines
Doing business in Vietnam
Intellectual Property in Vietnam
International Registrations
Copyright © Bross & Partners All rights reserved.

         
Cửa thép vân gỗcua thep van go