Tiếng Việt English  
Home Our People Experiences Associations Contact us
Liệu Nhật Bản có thể sẽ hủy bỏ chế định nhãn hiệu bảo vệ (defensive mark) – chế định được xem học thuyết riêng của Nhật Bản về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng vì lý do không hiệu quả và tốn kém– hay không
(Ngày đăng: 2018-10-19)

Liệu Nhật Bản có thể sẽ hủy bỏ chế định nhãn hiệu bảo vệ (defensive mark) – chế định được xem học thuyết riêng của Nhật Bản về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng vì lý do không hiệu quả và tốn kém– hay không[1]?

 

Bên cạnh pháp luật nội dung Nhật Bản về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng được chúng tôi giới thiệu link: http://bross.vn/newsletter/ip-news-update/Khai-luoc-mot-so-quy-tac-va-tieu-chuan-danh-gia-nhan-hieu-noi-tieng-theo-Luat-nhan-hieu-va-Luat-ngan-chan-canh-tranh-khong-lanh-manh-UCPA-cua-Nhat-Ban-1331, cơ chế bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng ở Nhật Bản còn được thực hiện bằng phương thức rất khác biệt so với pháp luật nhãn hiệu của Châu Âu, Hoa Kỳ, Trung Quốc và Việt Nam khi Nhật Bản cho phép đăng ký nhãn hiệu bảo vệ (defensive mark) làm phương tiện bổ sung để bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng, cụ thể Điều 4(1)(xii) Luật nhãn hiệu Nhật Bản quy định cấm đăng ký nhãn hiệu mà trùng với nhãn hiệu bảo vệ đã đăng ký của người khác (nhãn hiệu mà đã được đăng ký làm nhãn hiệu bảo vệ) nếu nhãn hiệu này được sử dụng liên quan đến hàng hóa/dịch vụ đã đăng ký mà có liên quan đến nhãn hiệu bảo vệ.

 

Luật nhãn hiệu Nhật Bản không định nghĩa nhãn hiệu bảo vệ là gì. Nhìn chung nhãn hiệu bảo vệ là một loại nhãn hiệu được sử dụng để ngăn chặn xâm phạm. Nó thường được xin đăng ký bởi chủ nhãn hiệu nổi tiếng cho hàng hóa/dịch vụ mà không được sử dụng bởi chủ nhãn hiệu nổi tiếng đó với mục đích là để giảm thiểu khả năng chủ thể khác sử dụng hoặc đăng ký nhãn hiệu nổi tiếng đó cho hàng hóa/dịch vụ không liên quan[2].

 

Nhật Bản không phải là quốc gia duy nhất luật hóa nguyên tắc bảo hộ nhãn hiệu bảo vệ. Nhìn ra xung quanh chúng ta còn thấy nhiều quốc gia khác như Australia, Hong Kong cũng quy định về nhãn hiệu bảo vệ có cùng mục đích là ngăn chặn chủ thể khác đăng ký hoặc sử dụng nhãn hiệu nổi tiếng cho hàng hóa/dịch vụ không liên quan với hàng hóa/dịch vụ mà chủ nhãn hiệu nổi tiếng sử dụng. Ví dụ nhãn hiệu bảo vệ lần đầu tiên có mặt trong Đạo luật nhãn hiệu năm 1955 của Australia, theo đó luật này quy định để đáp ứng tiêu chuẩn đăng ký nhãn hiệu bảo vệ, nhãn hiệu đó phải đã được đăng ký làm nhãn hiệu có đủ chức năng phân biệt và nó cũng phải được sử dụng, cho một số hoặc tất cả hàng hóa/dịch vụ mà nó đăng ký, tới mức mà việc sử dụng nhãn hiệu đó cho hàng hóa/dịch vụ khác có thể chỉ ra mối liên hệ giữa hàng hóa/dịch vụ đó với người nộp đơn xin đăng ký nhãn hiệu bảo vệ[3].

 

Theo quy chế hướng dẫn xét nghiệm nhãn hiệu của JPO[4], nhãn hiệu xin đăng ký bị từ chối theo điều 4(1)(xii) nêu trên chỉ khi nó trùng với nhãn hiệu bảo vệ đã đăng ký, cụ thể là những nhãn hiệu mà tương tự với nhãn hiệu bảo vệ, hoặc có một phần trùng hay tương tự với nhãn hiệu bảo vệ và được sử dụng cho hàng hóa/dịch vụ mang nhãn hiệu bảo vệ, hoặc nhãn hiệu trùng với nhãn hiệu bảo vệ hay có một phần trùng hay tương tự với nhãn hiệu bảo vệ và được sử dụng cho hàng hóa/dịch vụ tương tự với hàng hóa/dịch vụ đã đăng ký theo nhãn hiệu bảo vệ đều không thuộc phạm vi áp dụng của điều luật này mà chỉ thuộc đối tượng điều chỉnh của điều 4(1)(xv).

 

Luật nhãn hiệu Nhật Bản dành hẳn chương 7 (từ điều 64 đến điều 68(1)) để quy định về nhãn hiệu bảo vệ, trong đó điều đáng chú ý đầu tiên là tiêu chuẩn bảo hộ nhãn hiệu bảo vệ được quy định tại điều 64, cụ thể:

 

  1. Trường hợp nhãn hiệu đã đăng ký gắn liền với hàng hóa nổi tiếng với người tiêu dùng mà nó chỉ dẫn hàng hóa được bảo hộ liên quan đến hoạt động kinh doanh của chủ thể quyền thì chủ thể quyền nhãn hiệu có thể, nếu người khác sử dụng nhãn hiệu đã đăng ký cho hàng hóa khác với hàng hóa được bảo hộ hoặc hàng hóa tương tự với nó hoặc cho dịch vụ khác với dịch vụ tương tự với hàng hóa được bảo hộ mà có khả năng gây nhầm lẫn giữa hàng hóa/dịch vụ của người khác đó với hàng hóa được bảo hộ gắn liền với hoạt động kinh doanh của chủ thể quyền có hàng hóa nổi tiếng thì chủ thể quyền đó có thể xin cấp đăng ký nhãn hiệu bảo vệ cho nhãn hiệu trùng với nhãn hiệu đã đăng ký cho hàng hóa/dịch vụ mà khả năng gây nhầm lẫn có thể tồn tại.

 

  1. Trường hợp nhãn hiệu đã đăng ký gắn liền với dịch vụ nổi tiếng với người tiêu dùng mà nó chỉ dẫn dịch vụ được bảo hộ liên quan đến hoạt động kinh doanh của chủ thể quyền nhãn hiệu đăng ký thì chủ thể quyền này có thể, nếu người khác sử dụng nhãn hiệu đã đăng ký cho dịch vụ khác với dịch vụ được bảo hộ của nhãn hiệu đã đăng ký hoặc dịch vụ tương tự với nó hoặc cho hàng hóa khác với hàng hóa tương tự với dịch vụ được bảo hộ mà có khả năng gây nhầm lẫn giữa hàng hóa/dịch vụ của người khác với dịch vụ được bảo hộ gắn liền với hoạt động kinh doanh của chủ thể quyền thì có thể xin đăng ký nhãn hiệu bảo vệ trùng với nhãn hiệu đã đăng ký cho dịch vụ hoặc hàng hóa mà khả năng nhầm lẫn có thể tồn tại.

 

Các quy định trên cũng được áp dụng đối với việc đăng ký nhãn hiệu bảo vệ cho nhãn hiệu tập thể khu vực (regionally based collective trademark).

 

Tương tự như nhãn hiệu thông thường, thời hạn bảo hộ nhãn hiệu bảo vệ là 10 năm tính từ ngày đăng ký được xác lập. Việc gia hạn hiệu lực 10 năm tiếp tục có thể được chấp thuận chừng nào các điều kiện đăng ký nhãn hiệu bảo vệ vẫn còn khả năng đáp ứng như quy định tại Điều 64 nêu trên. Điều này có nghĩa là việc gia hạn được chấp nhận hay không hoàn toàn tùy thuộc vào kết quả xét nghiệm yêu cầu gia hạn đó như thể nó được nộp dưới dạng đơn đăng ký nhãn hiệu bảo vệ. Theo hướng dẫn xét nghiệm nhãn hiệu của JPO, quy trình xét nghiệm đơn đăng ký hoặc gia hạn nhãn hiệu bảo vệ được thực hiện như sau:

 

  1. Việc xét nghiệm này cần phải hướng tới nhấn mạnh vào ngăn chặn hành vi cạnh tranh không lành mạnh, cụ thể là khi nhãn hiệu được biết tới rộng rãi thì phạm vi hàng hóa/dịch vụ gắn liền với nhãn hiệu bảo vệ xin đăng ký phải được chấp thuận rộng

 

  1. Tính chất “nhầm lẫn” theo điều 64 và điều 4(1)(xv) được xem là trùng nhau vì vậy phạm vi hàng hóa/dịch vụ của nhãn hiệu bảo vệ xin đăng ký được chấp nhận không được phép vượt quá phạm của nhãn hiệu đã đăng ký

 

  1. Quy trình đánh giá theo điều 4(1)(xv) phải được tiến hành linh hoạt phù hợp với điều kiện kinh tế. Đối với nhãn hiệu nổi tiếng mà rõ ràng đủ điều kiện áp dụng thì phạm vi nhầm lẫn cần phải giải thích theo hướng rộng nhất có thể (liên quan đến khả năng nhầm lẫn, quan niệm của khách hàng cần phải được xem xét kỹ lưỡng)

 

  1. Một số quy tắc về đánh giá quan niệm của khách hàng được quy định như sau:
  1. Khi xét nghiệm đơn đăng ký nhãn hiệu bảo vệ, cần phải nghiên cứu đánh giá toàn diện mức độ mà nhãn hiệu đã đăng ký làm căn cứu đánh giá được biết tới ở mức độ nào và mối quan hệ của nó với ngành công nghiệp có liên quan. Về mặt phương pháp đánh giá, 45 nhóm hàng hóa/dịch vụ cần phải cấu trúc lại và tổng hợp thành một ngành/lĩnh vực ví dụ như hóa chất, máy móc, dệt may, tạp phẩm, thực phẩm, dịch vụ,…sau đó hàng hóa/dịch vụ được bảo hộ của đơn đăng ký phải được so sánh với hàng hóa/dịch vụ mang nhãn hiệu đăng ký ban đầu để xem liệu chúng có cùng thuộc một ngành hoặc lĩnh vực hay không. Ngoài ra, mức độ nhãn hiệu được biết tới cũng phải tính đến trước khi đi đến quyết định về khả năng nhầm lẫn. Theo đó, có 2 tình huống cần lưu ý: (i) trường hợp nhãn hiệu đăng ký ban đầu chưa được biết tới bởi công chúng nói chung mà chỉ được biết tới bởi người tiêu dùng thuộc lĩnh vực có liên quan thì chỉ hàng hóa/dịch vụ mà không nằm ngoài lĩnh vực công nghiệp của hàng hóa/dịch vụ mang nhãn hiệu đăng ký ban đầu mới có thể được cấp bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu bảo vệ; và (ii) trường hợp nhãn hiệu ban đầu được biết tới rộng rãi bởi công chúng nói chung thì hàng hóa/dịch vụ mà nằm ngoài lĩnh vực công nghiệp của hàng hóa/dịch vụ đã đăng ký cũng có thể được cấp đăng ký nhãn hiệu tập thể.

 

  1. Trường hợp hàng hóa/dịch vụ tồn tại mối quan hệ gần gũi và liên quan theo cách đặc biệt thì chúng sẽ được xem là cùng lĩnh vực công nghiệp bất kể quy tắc giới hạn về phạm vi hàng hóa/dịch vụ nêu trên.

 

  1. Nhãn hiệu bảo vệ được chấp thuận đăng ký chỉ cho nhãn hiệu trùng với nhãn hiệu đã đăng ký ban đầu với giả định rằng nhãn hiệu đăng ký ban đầu được biết tới rộng rãi. Trong tình huống này có thể dẫn đến khả năng hy hữu là nhãn hiệu bảo vệ, nhãn hiệu đăng ký ban đầu và nhãn hiệu được biết tới rộng rãi trùng nhau. Tuy nhiên đối với 2 loại nhãn hiệu được nhắc đến sau, do thời gian và nhiều lý do khác, nhãn hiệu hiện đang sử dụng mới là nhãn hiệu được biết tới rộng rãi bởi công chúng vì nhiều khi nó không trùng với nhãn hiệu đăng ký ban đầu. Do vậy, cần thận trọng đánh giá kỹ mối quan hệ giữa các nhãn hiệu này, cụ thể:

 

  1. Nhãn hiệu bảo vệ của người xin đăng ký phải trùng với nhãn hiệu đăng ký ban đầu (nếu không trùng thì phải từ chối đăng ký nhãn hiệu bảo vệ)

 

  1. Việc quyết định liệu nhãn hiệu đăng ký ban đầu có thực sự được biết tới và do vậy nhãn hiệu nổi tiếng có thể được quyết định dựa trên căn cứ công chúng nói chung thừa nhận rằng nhãn hiệu đó trùng. Thí dụ, hình thức hay diện mạo bên ngoài không nhất thiết phải trùng như yêu cầu, nghĩa là nhãn hiệu liên quan nổi tiếng vì danh hiệu hoặc quan niệm về nó hơn là hình thức thể hiện thì cần phải quyết định nó trùng.

 

Đối với trường hợp gia hạn nhãn hiệu bảo vệ, cần lưu ý rằng nhãn hiệu bảo vệ đã đăng ký liên quan tới nhãn hiệu bảo vệ là đối tượng xin gia hạn cũng phải đáp ứng các nguyên tắc của điều 64 nêu trên, cụ thể khi đánh giá mức độ biết tới bởi công chúng đối với nhãn hiệu bảo vệ mà xin gia hạn, việc xét nghiệm nó cũng phải được xử lý theo cách giống như xử lý đơn đăng ký nhãn hiệu bảo vệ và như vậy rõ ràng bằng chứng sử dụng nhãn hiệu đăng ký ban đầu sẽ phải được xem xét đầy đủ.

 

Điều đặc biệt cần lưu ý ở đây là nhãn hiệu bảo vệ không thể bị hủy bỏ vì lý do không sử dụng trong 3 năm liên tục như đối với nhãn hiệu thông thường. Theo đó, rõ ràng là chế định bảo hộ nhãn hiệu bảo vệ ở Nhật Bản thực chất là một phương thức bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng để một mặt giúp JPO chủ động từ chối các đơn đăng ký nhãn hiệu sau mà trùng hoặc về cơ bản là trùng với nhãn hiệu bảo vệ được đăng ký và mặt khác nó cũng là cơ chế khuyến khích các chủ nhãn hiệu đã đăng ký những người mà tin rằng nhãn hiệu của mình nổi tiếng với công chúng đăng ký bảo vệ chúng dưới dạng nhãn hiệu bảo vệ song song tồn tại với nhãn hiệu đã đăng ký ban đầu của họ.

 

Cần đặc biệt lưu ý từ “trùng” theo điều 50(1) Luật nhãn hiệu Nhật Bản có nội hàm rộng hơn so với nội hàm vốn có của từ này[5], cụ thể trường hợp nhãn hiệu đã đăng ký (gồm cả nhãn hiệu được xem là trùng, theo nhận thức thông thường với nhãn hiệu đã đăng ký, gồm cả nhãn hiệu chứa các ký tự trùng với nhãn hiệu đã đăng ký nhưng khác phông chữ, một nhãn hiệu mà được thể hiện ở các ký tự khác nhau như Hiragana, Katakana hoặc ký tự Latin, với nhãn hiệu đã đăng ký nhưng chỉ trùng với nhãn hiệu đã đăng ký ở trạng thái phát âm và ngữ nghĩa, và nhãn hiệu chứa dấu hiệu hình mà bị xem là trùng về hình thức thể hiện so với nhãn hiệu đã đăng ký…

 

Dữ liệu các nhãn hiệu bảo vệ được JPO tập hợp thành một đăng bạ riêng, tồn tại độc lập và song song với dữ liệu nhãn hiệu thông thường. Dữ liệu này không chỉ bao gồm các nhãn hiệu bảo vệ được chấp nhận đăng ký mà còn bao gồm các nhãn hiệu được công nhận là nổi tiếng sau các phán quyết của tòa án Nhật Bản hoặc JPO. Tra cứu đến thời điểm cập nhật mới nhất ngày 26/10/2016 dữ liệu này phản ánh tổng cộng 1.202 nhãn hiệu bảo vệ và nhãn hiệu nổi tiếng được công nhận[6].

 

Như vậy, so sánh với số lượng hàng triệu nhãn hiệu đang tồn tại ở Nhật Bản thì con số hơn một ngàn nhãn hiệu nổi tiếng này rõ ràng chỉ chiếm tỷ lệ vô cùng nhỏ. Và điều này cũng cho thấy có vẻ như việc xin đăng ký nhãn hiệu bảo vệ ở Nhật Bản không hề dễ dàng chút nào. Trong vụ H21(Gyo-ke) 10189, tòa cấp cao SHTT ngày 25/2/2010 đã phê chuẩn ý kiến từ chối của JPO đối với đơn xin đăng ký nhãn hiệu bảo vệ Journal Standard xin đăng ký cho dịch vụ cung cấp thông tin về bán quần áo ở nhóm 35 mà nhãn hiệu này vốn đã được đăng ký ở nhóm 3, 9, 25 & 26 sau khi người nộp đơn khiếu nại quan điểm từ chối của JPO cho rằng thiếu bằng chứng chứng tỏ rằng nhãn hiệu đăng ký ban đầu đã đạt được tình trạng đủ nổi tiếng đến mức nó đáp ứng điều kiện mang tính quyết định đối với đơn xin đăng ký nhãn hiệu bảo vệ là phải có khả năng gây ra khả năng nhầm lẫn với nhãn hiệu của bên thứ ba sử dụng cho hàng hóa/dịch vụ không tương tự.

 

Tòa án cũng bình luận thêm rằng Journal Standard ở một chừng mực nào đó được xem là nổi tiếng nhưng tính chất nổi tiếng của nó chưa đủ đến mức mà có thể làm cho người tiêu dùng nhầm lẫn về nguồn gốc thương mại nếu người khác sử dụng nhãn hiệu này cho hàng hóa/dịch vụ không tương tự. Điều đáng lưu ý nữa là chính người nộp đơn này cũng bị từ chối đăng ký 3 nhãn hiệu bảo vệ khác là Spick and Span, IENA, EDIFICE trong vụ H21(Gyo-ke) 10196, 10197 và 10198.

 

Trong một điều tra được công bố trên bản tin 2008 của mình trong đó bao gồm cả nhãn hiệu bảo vệ, Viện sở hữu trí tuệ Nhật Bản đã khảo sát pháp luật và thực tiễn ở một số nước như Hoa Kỳ, New Zealand, Cộng đồng chung Châu Âu, Australia, Taiwan theo hướng tập trung vào 2 câu hỏi: một là liệu công dụng ngăn cấm của quyền nhãn hiệu đã đăng ký có nên được mở rộng đến hàng hóa/dịch vụ không tương tự mà có khả năng gây nhầm lẫn hay không, và phạm vi bảo hộ nào được xem là phù hợp trong trường hợp đặc tính phân biệt hoặc danh tiếng của nhãn hiệu bị sử dụng trái phép hoặc bị thiệt hại (nghĩa là bị làm lu mờ - dilution).

 

Liên quan đến nhãn hiệu bảo vệ, kết quả điều tra cho thấy New Zealand và Taiwan đã hủy bỏ hệ thống đăng ký nhãn hiệu bảo vệ và xác lập quy định ngăn chặn hiện tượng làm lu mờ nhãn hiệu làm phương thức thay thế, một biểu hiện rõ rệt cho khuynh hướng đi theo quan điểm pháp lý về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng của Hoa Kỳ và Cộng đồng chung Châu Âu[7].

 

Khuynh hướng hủy bỏ hệ thống đăng ký nhãn hiệu bảo vệ để chuyển hướng theo học thuyết chống lu mờ (anti-dilution) nhãn hiệu của phương Tây trong đó đặc biệt là của Hoa Kỳ ngày càng trở nên phổ biến hơn, chứng tỏ rằng nhãn hiệu bảo vệ là không thực sự hiệu quả như người ta mong đợi. Một học giả cho rằng đăng ký nhãn hiệu bảo vệ làm phương cách bảo vệ nhãn hiệu nổi tiếng là không thích hợp vì phạm vi hiệu lực của nhãn hiệu bảo vệ chỉ giới hạn đối với nhãn hiệu trùng chứ không bao gồm nhãn hiệu tương tự, mất nhiều chi phí và thời gian đăng ký và giành quyền đối với nhiều nhãn hiệu bảo vệ cũng là vấn đề đối với các chủ nhãn hiệu nổi tiếng. Hơn nữa việc chỉ ngăn chặn hành vi sử dụng nhãn hiệu trùng là không đủ để ngăn chặn các hành vi có thể gây nhầm lẫn. Nhưng một vấn đề đáng lưu ý hơn là việc giả định rằng mức độ nổi tiếng của nhãn hiệu không thay đổi trong suốt chu kỳ hiệu lực 10 năm của nó là mang tính cứng nhắc vì suy cho cùng đối tượng bảo hộ của nhãn hiệu nói chung hay nhãn hiệu nổi tiếng nói riêng đều là uy tín gắn liền với hoạt động kinh doanh của người sử dụng nhãn hiệu mà cái đó vốn có thuộc tính động và dễ thay đổi[8]. Một học giả khác đến từ Nhật Bản trong luận án tiến sĩ của mình cũng cho rằng thuộc tính động, dễ thay đổi này chính là thuộc tính mang tính bản chất của nhãn hiệu nổi tiếng.[9]

 

Ngoài các quy định về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng trong Luật nhãn hiệu Nhật Bản được phân tích trên đây, nhãn hiệu nổi tiếng còn hay được bảo hộ thông qua các quy định của UPCA. Theo UCPA[10], hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu nổi tiếng, trong số nhiều hành vi khác, thuộc đối tượng điều chỉnh của UPCA, chẳng hạn như điều 2(1)(i) quy định hành vi gây nhầm lẫn với hàng hóa hoặc hoạt động kinh doanh của người khác bằng cách sử dụng chỉ dẫn hàng hóa hoặc kinh doanh (như tên, tên thương mại, dấu hiệu, thùng chứa hoặc bao bì hàng hóa gắn liền với hoạt động của một người, hoặc bất kỳ chỉ dẫn khác của hàng hóa/hoạt động kinh doanh của một người) mà trùng hoặc tương tự với chỉ dẫn hàng hóa/hoạt động kinh doanh mà nổi tiếng đối với người tiêu dùng làm chỉ dẫn hàng hóa/hoạt động kinh doanh của mình, hoặc bằng cách chuyển nhượng, phân phối, trưng bày nhằm mục đích chuyển nhượng hoặc phân phối, xuất khẩu, nhập khẩu hoặc cung cấp thông qua mạng lưới viễn thông hàng hóa mang chỉ dẫn đó

Điều 2(1)(ii) quy định thêm rằng việc sử dụng chỉ dẫn hàng hóa hoặc kinh doanh mà trùng hoặc tương tự với chỉ dẫn hàng hóa hoặc kinh doanh nổi tiếng của người khác làm của mình, hoặc chuyển nhượng, phân phối, trưng bày nhằm mục đích chuyển nhượng, phân phối, xuất khẩu, nhập khẩu hoặc cung cấp thông qua mạng lưới viễn thông mà có sử dụng các chỉ dẫn đó

 

Trường hợp lợi ích thương mại của bất kỳ người nào bị xâm phạm hoặc có khả năng bị xâm phạm do hành vi cạnh tranh không lành mạnh đều có quyền yêu cầu đình chỉ hoặc ngăn chặn hành vi xâm phạm đó chống lại người xâm phạm hoặc có khả năng xâm phạm lợi ích thương mại đó (điều 3(1). Theo phán quyết của Tòa cấp quận Osaka (Vụ 2012 (Wa) 13282) ngày 19/9/2013, nguyên đơn khởi kiện bị đơn xung quanh việc bị đơn sử dụng bàn tivi giống với hình dáng bàn tivi của nguyên đơn bằng việc cho rằng hình dáng bàn tivi này đóng vai trò là chỉ dẫn hàng hóa theo điều 2(1)(i) UCPA. Tòa án cho rằng cần phải xem xét 2 vấn đề chính: (a) liệu hình dáng sản phẩm của nguyên đơn có đóng vài trò là chỉ dẫn hàng hóa hay không (nghĩa là nó đặc biệt, có đặc tính phân biệt và nổi tiếng hay không), và (b) liệu việc đồng tồn tại sản phẩm của nguyên đơn và bị đơn có dẫn đến hệ quả làm cho người tiêu dùng có khả năng bị nhầm lẫn hay không. Tòa án đã bác bỏ toàn bộ các yêu cầu nêu trong đơn kiện của nguyên đơn bao gồm yêu cầu buộc bị đơn chấm dứt hành vi xâm phạm và bồi thường thiệt hại, lập luận rằng:

 

  1. Đặc điểm của hình dáng của sản phẩm của nguyên đơn hình thành từ chức năng của sản phẩm. Hơn nữa, dù nguyên đơn biện luận rằng sản phẩm của nó đã trở nên nổi tiếng thì thấy rằng bàn tivi của các công ty khác vào thời điểm đó đã có đặc điểm về hình dáng xuất phát từ cùng một chức năng. Vì vậy, sản phẩm của nguyên đơn không được xem là đặc biệt và tính phân biệt.

 

  1. Đánh giá chứng cứ về doanh thu và hoạt động quảng bá sản phẩm của nguyên đơn, không thể thấy rằng nguyên đơn đã liên tục sử dụng hình dáng sản phẩm giao dịch thường xuyên và liên tục với khách hàng trong nhiều năm đến chừng mực mà nó đã dành được chức năng chỉ dẫn nguồn gốc

 

Bross & Partners, một công ty luật sở hữu trí tuệ được thành lập năm 2008, thường xuyên lọt vào bảng xếp hạng các công ty luật sở hữu trí tuệ hàng đầu của Việt Nam do các tổ chức đánh giá luật sư có uy tín toàn cầu công bố hàng năm như Managing Intellectual Property (MIP), World Trademark Review (WTR1000), Legal 500 Asia Pacific, AsiaLaw Profiles, Asia Leading Lawyers, Asia IP và Asian Legal Business (ALB). Bross & Partners có kinh nghiệm và năng lực chuyên môn sâu hỗ trợ khách hàng trong các tranh chấp sở hữu trí tuệ phức tạp ở Việt Nam và nước ngoài bao gồm cả Mỹ, EU, Canada, Trung Quốc, Thailand. Nếu Quý khách hàng có nhu cầu cụ thể cần được tư vấn, vui lòng liên hệ vinh@bross.vn hoặc điện thoại 0903 287 057.

 

 

 


[1] Trích Báo cáo nghiên cứu thuộc Dự án bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng theo pháp luật Việt Nam – Thực trạng và Giải pháp công bố ngày 17/11/2017 tại Hà Nội và được phát hành bởi Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật năm 2017 bởi đồng tác giả Ls. Lê Quang Vinh và Ts. Phan Ngọc Tâm

[2] Xem https://definitions.uslegal.com/d/defensive-trademark/

[3] Xem Part 34 Defensive Trade Marks Relevant Legislation, Australian trademarks law and defensive trade marks hoặc xem http://manuals.ipaustralia.gov.au/trademarks/Part_34.pdf

[4] Xem https://www.jpo.go.jp/tetuzuki_e/t_tokkyo_e/tt1302-002.htm

[5] Trùng (identical) có nghĩa là đúng, chính, y hệt nhau, giống hệt nhau (xem http://tratu.soha.vn/dict/en_vn/Identical) hoặc những thứ gì đó trùng có nghĩa là chúng chính xác giống như nhau (Things that are identical are exactly the same. Xem: https://www.collinsdictionary.com/dictionary/english/identical

[6] Xem: https://www2.j-platpat.inpit.go.jp/chomei/list_e.cgi?LIST_TYPE=ALL&ZUKEI=&HIT=0&ID=0&START=1&SIZE=50&STIME=148401984340145737945516

[7] Xem https://www.iip.or.jp/e/e_summary/pdf/detail2007/e19_08.pdf

[8] Xem Hà Thị Nguyệt Thu, Sđd, trang 38

[9] Xem Hiroko Onishi, Well-Known Trade Mark Protection: Confusion in EU and Japan, trang 24

[10] UCPA viết tắt của Luật ngăn chặn cạnh tranh không lành mạnh của Nhật Bản có tên tiếng Anh là Unfair Competition Prevention Act

 

Bookmark and Share
Relatednews
Các thay đổi đáng lưu ý liên quan đến thủ tục bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại biên giới thông qua lực lượng Hải quan theo Thông tư 13/2015/TT-BTC sửa đổi
9 Changes Regarding the Customs and Border Protection of Intellectual Property Rights under the Circular 13/2015/TT-BTC as Revised
Giải quyết tranh chấp nhãn hiệu (thương hiệu) ở Hoa Kỳ thông qua thủ tục phản đối nhãn hiệu tại TTAB (USPTO)
The Originality of an Artwork Determined under the Practices of Vietnam, Germany, and the United States
No Originality No Copyright Subsisted in Literary and Artistic Works – a Comparable Snapshot of Originality Requirement Determined by the Practices of Vietnam, the United States, UK and EU
4 Inadequacies of Trademark Opposition Procedure under the IP Law of Vietnam
Procedure and Timeframe for Nullifying Patent for Design in Vietnam
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA CHẾ ĐỊNH PHẢN ĐỐI ĐƠN ĐĂNG KÝ NHÃN HIỆU THEO LUẬT NHÃN HIỆU MỸ
Hủy hiệu lực bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp ở Việt Nam
Thư phản đối nhãn hiệu (Letter of Protest of Trademark) ở Mỹ khác gì với đơn phản đối nhãn hiệu (Trademark Opposition) ở Việt Nam?
Part 3/3: Copyright under the Vietnamese Legislation in the Format Q&A

Newsletter
Guidelines
Doing business in Vietnam
Intellectual Property in Vietnam
International Registrations
Copyright © Bross & Partners All rights reserved.

         
Cửa thép vân gỗcua thep van go