Thực trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
và nỗ lực tăng tính hiệu quả trong thực thi quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam
Luật sư Lê Quang Vinh – Bross & Partners
Email: vinh@bross.vn
Nhìn chung mọi đối tượng quyền sở hữu trí tuệ như sáng chế, kiểu dáng, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh, quyền tác giả, quyền liên đều đang được công nhận ở Việt Nam bằng Luật SHTT 2022 nhưng việc thực thi chúng vẫn còn nhiều hạn chế mà có lẽ nguyên nhân chủ yếu là do Việt Nam chưa có hệ thống tư pháp đủ mạnh để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp dân sự và hình sự.[1] Bài viết dưới đây cung cấp thông tin khái lược về thực trạng xâm phạm bản quyền và nỗ lực nâng tính hiệu qua trong thực thi quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam
Thực trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam
Xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam hiện nay đang ở mức đáng báo động. Bản báo cáo có tên gọi “Thúc đẩy và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam” được ban hành theo sáng kiến của Phòng thương mại quốc tế ICC (gọi tắt là ICC Bascap) trên cơ sở phối hợp với Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) cho thấy 3 khía cạnh đáng lưu ý: (a) tình trạng hàng giả, hàng lậu ở mức báo động góp phần tích cực cho nền kinh tế ngầm (nền kinh tế chưa quan sát) có giá trị hàng chục tỷ đô la, làm cho nhà nước thất thu thuế còn người tiêu dùng thì gánh chịu rủi ro sức khỏe trong đó các mặt hàng giả xuất hiện ở mọi lĩnh vực từ dệt may, mỹ phẩm, dược phẩm, rượu mạnh, thực phẩm và phần mềm; (b) đối tượng xâm phạm ngày càng tinh vi vì chúng sử dụng công nghệ làm giả tinh vi làm vô hiệu hóa khả năng phát hiện, trong đó chú yếu tập trung vào giả các thương hiệu lớn; và (c) xâm phạm quyền SHTT đang gia tăng nhanh và phổ biến trên môi trường internet tập trung vào web lậu, phát tán, phân phối sản phẩm có quyền tác giả hoặc quyền liên quan không phép, bẻ khóa, phát lậu, livestream.[2]
Theo báo cáo đặc biệt 301 năm 2022 của Văn phòng Bộ thương mại Hoa Kỳ (USTR), Việt Nam vẫn nằm trong danh sách các quốc gia cần theo dõi (Watch List) về sở hữu trí tuệ vì Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào biện pháp hành chính trong thực thi quyền sở hữu trí tuệ, không chứng tỏ được tính hiệu quả trong việc ngăn chặn tình trạng bán hàng giả mạo và sao chép lậu tiếp tục lan rộng.[3]
Liên quan đến lĩnh vực quyền tác giả, Ông Gary Gan - Giám đốc Chương trình Tuân thủ Khu vực châu Á – Thái Bình Dương thuộc Liên minh phần mềm (BSA) cho biết “Tỷ lệ cài đặt phần mềm không bản quyền của Việt Nam thuộc hàng cao nhất khu vực APAC đạt 78%, tức là 4/5 trường hợp. Để so sánh, nước đạt kết quả tốt nhất ở khu vực APAC là New Zealand với tỷ lệ 18% và nước đứng đầu thế giới là Mỹ với 17%”.[4]
Hầu hết các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hiện nay ở Việt Nam đều được xử lý bằng biện pháp hành chính. Theo Tổng Cục Quản lý thị trường – Bộ Công thương, pháp luật Việt Nam quy định thực thi quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp dân sự, hình sự và hành chính nhưng trên thực tế việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ chưa thực sự hiệu quả vì hầu như chỉ có biện pháp hành chính là được áp dụng chủ yếu. Tuy nhiên, ngay cả biện pháp hành chính được áp dụng cũng tương đối hạn chế do có nhiều lực lượng tham gia như Hải quan, Thanh tra chuyên ngành, Quản lý thị trường và Công an kinh tế nhưng không xác định rõ ràng cơ quan nào là đầu mối.[5]
Giải quyết các vụ việc hoặc tranh chấp về sở hữu trí tuệ mang tính phi hình sự tại hệ thống tòa án của Việt Nam rất ít được sử dụng bởi các chủ thể quyền. Tính từ sau thời điểm Luật SHTT có hiệu lực thi hành (từ ngày 01/7/2006), theo số liệu thống kê của TAND tối cao từ 01/7/2006 cho đến ngày 22/6/2009, toàn ngành Tòa án chỉ thụ lý được 108 vụ án tranh chấp về quyền SHTT (trong đó chiếm đa số là tranh chấp về quyền tác giả với 90 vụ; tranh chấp về quyền SHCN chiếm 10 vụ; tranh chấp về hợp đồng sử dụng tác phẩm chiếm 5 vụ; tranh chấp về hợp đồng chuyển giao công nghệ chiếm 3 vụ). Nếu chỉ tính riêng đối với Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Hà Nội thì từ ngày 01/7/2006 đến nay, Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Hà Nội mới chỉ thụ lý giải quyết có 7 vụ án, nhưng thực chất chỉ là 5 vụ án, vì có 2 vụ án phải xét xử xử phúc thẩm lần 2. Số vụ việc còn quá hạn chế này cho thấy, các chủ thể quyền SHTT còn e ngại việc khởi kiện ra Tòa án mà thay vào đó, họ chọn việc xử lý hành vi xâm phạm bằng biện pháp hành chính. Thực tế trong giai đoạn này xuất phát từ (i) tính mất cân xứng của luật nội dung về quyền tác giả và quyền SHCN, (ii) những bất cập của pháp luật về tố tụng đối với việc giải quyết các vụ tranh chấp về quyền SHTT, và (iii) sự non kém về năng lực chuyên môn của các cán bộ xét xử, hệ quả là tòa án chưa thực sự trở thành kênh giải quyết thuyết phục, ưa chuộng đối với các tranh chấp về tác quyền.[6]
Đối với các vụ việc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có dấu hiệu tội phạm, chẳng hạn như như tội sản xuất, buôn bán hàng giả, tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan, theo báo cáo của Tổng cục Cảnh sát – Bộ Công an tháng 9/2007 cho giai đoạn từ 2002-2007 cả nước chỉ có 1092 vụ liên quan đến hành giả nhưng chỉ có 162 vụ khởi tố vụ án hình sự. Tuy nhiên trong số các vụ án hình sự này, hầu như cơ quan tiến hành tố tụng chỉ khởi tố về tội danh sản xuất, buôn bán hàng giả thay vì tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp hoặc xâm phạm quyền tác giả, cụ thể hơn tính đến tháng 9/2008 chỉ có vài vụ truy tố hình sự theo điều 171 Bộ luật hình sự năm 1999 về xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp.[7]
Việt Nam nỗ lực nâng tính hiệu quả trong thực thi quyền sở hữu trí tuệ
Gần đây, Việt Nam thể hiện nhiều nỗ lực nâng cao hiệu quả thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Đầu tiên là điểm sáng về lập pháp được đánh giá cao là Việt Nam lần đầu quy trách nhiệm hình sự cho pháp nhân thương mại khi truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội xâm phạm quyền tác giả theo Điều 225 và tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp theo Điều 226 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi. Về thực tiễn, tính đến nay đã có 2 vụ xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp công nghiệp mà pháp nhân thương mại lần đầu bị điều tra, truy tố và xét xử bởi các tòa án trên cả nước.[8]
Tiếp đến, Việt Nam đã sửa đổi bổ sung pháp luật về sở hữu trí tuệ, chẳng hạn như Luật SHTT 2022 như quy trách nhiệm/miễn trách nhiệm pháp lý có điều kiện cho doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian (ISP/OSP) để đối phó với nạn sao chép lậu và buôn bán hàng hóa giả mạo trên môi trường internet; trao thẩm quyền và nghĩa vụ chủ động phát hiện và tạm dừng thông quan cho cơ quan hải quan nếu hàng hóa xuất khẩu/nhập khẩu là hàng hóa giả mạo.
Để tăng tính hiệu quả hơn trong việc ngăn chặn nạn sản xuất, buôn bán hàng hóa giả mạo nhãn hiệu, Việt Nam đã sửa đổi khoản 1 Điều 155 và khoản 8 Điều 157 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 để cơ quan điều tra có thể khởi tố vụ án hình sự về tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp mà không cần có yêu cầu của bị hại.
Một số vụ án đòi bồi thường do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gần đây cho thấy biện pháp dân sự có dấu hiệu được sử dụng nhiều hơn bởi chủ thể quyền do khoản tiền đòi bồi thường thiệt hại được tòa án chấp nhận có khuynh hướng tăng. Chẳng hạn quyết định mức bồi thường thiệt hại của các tòa án trong giai đoạn sau năm 2012 có điểm nhấn đáng lưu ý là có tòa án chấp nhận mức đòi bị đơn hoàn trả chi phí hợp lý thuê luật sư ở mức kỷ lục lên tới 630 triệu. Đến năm 2015, có tòa án chấp nhận yêu cầu đòi bồi thường tổn thất thực tế lên tới trên 2.2 tỷ đồng được nguyên đơn chứng minh tồn tại ở cả 3 dạng: tổn thất về cơ hội kinh doanh, lợi nhuận bất hợp pháp, và chi phí thuê luật sư nhưng sau đó bị tòa cấp phúc thẩm bác bỏ toàn bộ phần lợi nhuận bất hợp pháp đòi bồi thường trên 1.1 tỷ đồng và chỉ chấp nhận một phần nhỏ tổn thất về cơ hội kinh doanh là 22 triệu so với con số đòi bồi thường trên 430 triệu đồng.[9]
Ở góc nhìn tổng thể hơn, Việt Nam đã và đang cho thấy sự nỗ lực nhất định trong việc phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả bằng việc Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 389 từ năm 2014 mà hay được gọi tắt là Ban chỉ đạo 389 do một Phó Thủ tướng làm trưởng ban. Thông qua việc liên kết và điều phối giữa các lực lượng thực thi pháp luật thuộc nhiều bộ, ngành khác nhau nên Ban chỉ đạo 389 đã đạt được một số thành công bước đầu, chẳng hạn như đã xử lý 223.262 trường hợp chỉ riêng 9 tháng đầu năm 2016 với khoản thu ngân sách 225.563 tỷ đồng với tổng cộng 1.561 vụ án liên quan đến 1.863 đối tượng vi phạm đã bị khởi tố mà hầu hết trong số này liên quan đến sản xuất, buôn bán hàng giả.[10]
Bross & Partners, một công ty sở hữu trí tuệ được xếp hạng Nhất (Tier 1) trong 3 năm liên tục (2021-2023) bởi Tạp chí Legal 500 Asia Pacific, có kinh nghiệm tranh tụng các vụ án sở hữu trí tuệ tại Tòa án hoặc tham gia giải quyết các tranh chấp liên quan đến sáng chế, nhãn hiệu và quyền tác giả ở Việt Nam và nước ngoài.
Vui lòng liên hệ: vinh@bross.vn; mobile: 0903 287 057; Zalo: +84903287057; Skype: vinh.bross; Wechat: Vinhbross2603.
[1] Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) cho rằng tất cả các hệ thống sở hữu trí tuệ cần được củng cố bởi một hệ thống tư pháp mạnh để xử lý các vi phạm dân sự và hình sự. Nếu không có một hệ thống phù hợp cho việc thực thi quyền và cũng như cho phép chống lại việc cấp quyền cho người khác thì một hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ sẽ chẳng có giá trị gì cả. Xem WIPO Intellectual Property Handbook: Policy, Law and Use, Chapter 4: Enforcement of Intellecual Property Rights, trang 207
[3] Báo cáo đặc biệt 301 là một đánh giá thường niên về tình trạng thực thi và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của các quốc gia là đối tác thương mại của Hoa Kỳ. Dựa trên kết quả điều tra và đánh giá, USTR sẽ xếp các quốc gia cần quan tâm về sở hữu trí tuệ theo 2 danh sách: danh sách theo dõi (Watch List) và danh sách ưu tiên theo dõi (Priority Watch List). Báo cáo đặc biệt 301 của Văn phòng Bộ thương mại Hoa Kỳ (USTR) năm 2022 (chỉ có tiếng Anh) có thể xem tại: 2022 Special 301 Report.pdf (ustr.gov)
[7] Xem thêm Pháp luật và thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam, PGS. TS. Trần Văn Nam, Khoa Luật, Đại học kinh tế quốc dân
[10] Bài phát biểu của Đại diện Văn phòng Thường trực Ban Chỉ đạo 389 Quốc gia tại Hội nghị “Nâng cao hiệu quả phối hợp của các lực lượng thực thi trong công tác chống hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ” tại Hà Nội, Việt Nam ngày 20/10/2016 được báo cáo ICC Bascap trích dẫn tại footnote 75